Kinh nghiệm quốc tế và bài học phát triển du lịch cộng đồng giảm đói nghèo đối với các bản làng thuộc vùng núi Tây Bắc
- Đặt vấn đề
Phát triển du lịch cộng đồng tại các bản làng đang được sự chú ý quan tâm của rất nhiều địa phương trong nước ta. Bởi lẽ du lịch cộng đồng phát triển tốt sẽ mang lại nguồn thu nhập cho người dân địa phương, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống, có ý nghĩa trong việc xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thông mới. Hiện nay, các bản làng thuộc vùng núi Tây Bắc có tỷ lệ các hộ nghèo khá cao so với cả nước. Để khắc phục tình trạng này, một trong những giải pháp có thể thực hiện ngay mà không tốn kém quá nhiều chi phí đó là phát triển du lịch cộng đồng. Vậy làm thế nào để các bản làng xác định được đúng phương hướng phát triển du lịch cộng đồng? Bài báo này rút ra những bài học về phương hướng phát triển thông qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế của những bản làng có đặc điểm giống với các bản làng vùng núi Tây Bắc.
- Nội dung
2.1. Sự phát triển du lịch ở làng Sirubari – Nepal
Làng Sirubari thuộc huyện Syangja, tỉnh Ghandruk, cách Pokhara 25km đường bộ và nằm trên đường cao tốc Siddhartha – là con đường nối những điểm du lịch nổi tiếng khu vực phía Tây Nepal như Pokhara, Lumbini. Với độ cao ở 1.700m, từ đây có thể nhìn thấy một số đỉnh núi thuộc dãy Himalaya như Machhapure, Dhaulagiri và Annapura. Sirubari là làng phát triển du lịch đầu tiên ở Nepal vào năm 1997 và nổi tiếng với những chương trình du lịch cộng đồng. Các chương trình du lịch cộng đồng ở đây có sự hợp tác giữa cộng đồng dân cư và khu vực tư nhân. Với sự chấp thuận của Chính phủ, Ủy ban quản lý và phát triển du lịch làng Sirubari đã được thành lập và liên kết với Công ty du lịch nghỉ dưỡng Nepal (có trụ sở tại Kathmandu) nhằm hỗ trợ làng trong công tác quảng bá, tiếp thị.
Người dân địa phương rất tích cực tham gia du lịch cộng đồng. Hộ gia đình nào muốn tham gia vào chương trình phát triển du lịch cộng đồng tại làng, trước tiên phải dành 2 phòng trong nhà để sửa sang thành phòng lưu trú cho du khách, đồng thời phải xây nhà vệ sinh và cung cấp nước sạch. Do vậy, chỉ cần điều chỉnh một số chi tiết trong nhà là có thể phục vụ nhu cầu nghỉ qua đêm của du khách, trong khi ngôi nhà vẫn giữ nguyên được phong cách truyền thống của người Nepal và chủ nhà vẫn sinh sống ở đó bình thường. Sau đó, người dân cần đăng ký làm thành viên của Ủy ban quản lý và phát triển du lịch làng Sirubari, chấp nhận những quy định và nguyên tắc của Ủy ban này. Công ty du lịch nghỉ dưỡng Nepal chịu trách nhiệm tiếp thị và gửi những đoàn khách du lịch đến làng theo tour nghỉ dưỡng ít nhất 2 đêm. Một nhóm dân làng sẽ đón tiếp khách và hướng dẫn họ tới khu vực trung tâm, cạnh đình làng để sắp xếp chỗ ở. Ủy ban sẽ phân chia khách du lịch về những phòng còn trống. Chủ nhà sẽ cung cấp chỗ ở và 3 bữa ăn mỗi ngày cho du khách. Trên cơ sở thỏa thuận giữa Ủy ban và Công ty, Ủy ban sẽ thu một khoản thuế nhất định cho thời gian lưu trú 2 đêm của khách và sẽ thu thêm tùy vào thời gian lưu trú kéo dài. Ủy ban cũng bố trí người mang vác hành lý cho du khách. Tùy theo thời điểm tham quan, có thể sẽ có lễ đón tiếp khách và chia tay khách, thường được tổ chức thông qua tiệc trà buổi chiều.
Chương trình du lịch nơi đây mang lại cho du khách cơ hội hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng nông thôn thông qua các chương trình văn hóa truyền thống, những tục lệ lâu đời ở Ghandruk. Khách du lịch được thưởng thức cùng chủ nhà những món ăn đặc trưng của người Nepal, tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ vào buổi tối, lên ngọn đồi cao nhất làng để ngắm dãy Himalaya từ phía Bắc; đi quanh làng để tham quan cuộc sống, công việc, môi trường xã hội, văn hóa, đời sống tinh thần, những tục lệ của dân làng… Người dân làng Sirubari đã thể hiện những nguyên tắc đoàn kết trong cộng đồng, tin tưởng nhau, gìn giữ và phát triển văn hóa truyền thống, quản lý tài sản công và tạo công ăn việc làm. Cộng đồng dân cư địa phương có thể vừa tự bảo tồn các di sản văn hóa, giữ gìn quản lý tài sản tự nhiên cũng như tài sản vật chất; vừa có thể phát triển các nguồn lực về tài chính, xã hội và con người.
Sự thành công của mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở Sirubari là nhờ các điều kiện và các hành động sau: (1) Duy trì những nét văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường kết hợp với tác động kinh tế tích cực đến địa phương góp phần đem lại sự phát triển du lịch cộng đồng. (2) Sự tuân thủ nghiêm túc các quy định của cộng đồng và chịu trách nhiệm chung về các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường tại địa phương của người dân khi họ đã quyết định tham gia hoạt động du lịch cộng đồng. Cộng đồng dân cư có quyền tự quyết cũng như nhận thức những khiếm khuyết về môi trường, văn hóa để từ đó có thể cải thiện, học hỏi và tạo ra những cơ hội việc làm lâu dài. (3) Áp dụng nhiều cách thức để tạo ra công ăn việc làm, tạo thu nhập để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân. Trao quyền tự quyết cho người dân thông qua xây dựng thể chế ở địa phương, tạo ra và quản lý nguồn lực về tài chính, con người, vật chất, xã hội… (4) Tiến hành chặt chẽ, tập trung ngay từ đầu chiến lược xúc tiến, quảng bá phát triển du lịch cộng đồng để mang lại hiệu quả cao.
2.2. Phát triển du lịch ở bản Huay Hee – Thái Lan
Huay Hee là một bản dân tộc miền núi, nằm trên ngọn Doi Pui, thuộc vườn quốc gia Mã Hồng Sơn. Đây là nơi cư trú của các đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Karen – 1 trong 6 dân tộc sống ở miền Bắc Thái Lan. Người dân tại đây mưu sinh bằng canh tác nương rẫy và khai thác sản phẩm từ rừng. Khách du lịch tìm đến đây bởi các phong tục tập quán, lễ hội độc đáo của người Karen ẩn náu bên trong sự đa dạng, đặc sắc của thiên nhiên vườn quốc gia Mã Hồng Sơn. Người Karen thờ lạy hình tượng, tin vào các thế lực siêu nhân như thần đất, thần nước… nhưng lại có đến 99% dân bản Huay Hee theo đạo Thiên Chúa giáo.
Trước đây, khi vườn quốc gia Mã Hồng Sơn mới thành lập, mâu thuẫn giữa cộng đồng dân cư địa phương với Ban quản lý Vườn thường xuyên xảy ra, đặc biệt là sau lần Ban quản lý có ý định di dời toàn bộ dân bản ra khỏi vườn quốc gia. Mặc dù kế hoạch di dời dân không thực hiện được do cộng đồng dân cư bản xứ không đồng ý, nhưng người dân vẫn có một số phản ứng tiêu cực, gây áp lực lên tài nguyên thiên nhiên như đốt phá rừng, săn bắt các động vật quý hiếm… Mặt khác, khi số lượng khách đến bản tham quan ngày càng đông, thì mức độ tác động tới lối sống bản địa và tài nguyên ngày càng tăng. Điều này cũng làm nảy sinh vấn đề giữa bảo tồn và phát triển du lịch. Đứng trước thực trạng đó, các nhà quản lý và các tổ chức phi Chính phủ về bảo tồn thiên nhiên đã hỗ trợ xây dựng mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng ở bản Huay Hee, các bên tham gia gồm: Dự án Responsible Ecological Social Tours (REST), Dự án The Project for Recovery of Life and Culture (PRLC), Vườn Quốc gia Mã Hồng Sơn, Tổng cục Du lịch Thái Lan, Quỹ Hỗ trợ nghiên cứu, Quỹ An ninh dân tộc thiểu số, các Công ty lữ hành. Các tổ chức này đã đầu tư ban đầu về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cho cộng đồng dân cư, tuyên truyền quảng bá tài nguyên và các sản phẩm du lịch của vùng. Cộng đồng địa phương tham gia sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ du lịch cho du khách.
Các hoạt động du lịch đã tổ chức thực hiện được: Tổ chức các chương trình du lịch sinh thái: đi bộ xuyên rừng, chinh phục đỉnh Mã Hồng Sơn, tìm hiểu động thực vật, tham quan nơi ươm trồng cây phong lan; Tổ chức các chương trình du lịch văn hóa như: tham quan tìm hiểu cuộc sống cộng đồng, tham quan tìm hiểu kiến trúc nhà sàn cổ, tìm hiểu văn hóa tín ngưỡng, xem biểu diễn giao lưu văn nghệ; Tổ chức các chương trình du lịch mạo hiểm như: leo núi, thám hiểm; Tổ chức các dịch vụ lưu trú tại nhà dân, cung cấp phương tiện đi lại, hướng dẫn viên. Động cơ du khách quốc tế đến khu vực nổi bật là: Thưởng thức, chiêm ngưỡng cảnh đẹp, vẻ hoang sơ của tài nguyên và môi trường tự nhiên, tìm hiểu nền văn hóa bản địa. Chia sẻ lợi ích: Người cung cấp dịch vụ du lịch được hưởng 80% thu nhập từ hoạt động du lịch, còn lại đóng góp vào quỹ phát triển cộng đồng 5% , đóng góp vào Ban quản lý du lịch bản 15%. Việc phát triển du lịch đã giải quyết được công ăn việc làm cho người dân Karen, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng của họ đến tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn được bản sắc văn hóa, tín ngưỡng dân tộc cộng đồng.
Về cơ chế hoạt động của mô hình chịu tác động từ các nhân tố: Quản lý và tổ chức: bao gồm các tổ chức phi Chính phủ và các cơ quan Nhà nước của Thái Lan; Tài nguyên, thị trường khách, cơ chế chính sách; Cộng đồng tham gia phát triển du lịch và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên tại địa phương. Có thể thấy, sự thành công của mô hình phát triển du lịch cộng đồng ở Huay Hee là nhờ các điều kiện và các hành động sau: (1) Có sự hỗ trợ ban đầu về tài chính (từ Chính phủ hoặc các tổ chức phi Chính phủ) và coi trọng công tác đào tạo hướng dẫn cho cộng đồng ngay từ khi triển khai các vấn đề của dự án; (2) Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về du lịch và bảo tồn thông qua tập huấn, báo cáo chuyên đề và tổ chức tham gia học tập cho cộng đồng. (3) Giữ nguyên hiện trạng về đất đai của cộng đồng dân cư, bảo vệ và tôn trọng những phong tục tập quán trong quá trình triển khai dự án; (4) Có sự cam kết với cộng đồng về quyền lợi cũng như chia sẻ lợi ích từ du lịch để đảm bảo lòng tin cho cộng đồng; (5) Tăng quyền lực cho cộng đồng trong quá trình thực hiện các kế hoạch; (6) Các cơ quan quản lý Nhà nước tham gia tích cực vào hoạt động của mô hình du lịch dựa vào cộng đồng.
2.3. Bài học đối với các bản làng du lịch cộng đồng vùng núi Tây Bắc
Với kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng tại hai bản nêu trên có những đặc điểm tương đồng với các bản làng vùng núi Tây Bắc có khí hậu đặc trưng, có phong cảnh thiên nhiên và địa hình tự nhiên độc đáo, có nét văn hoá truyền thống riêng của các dân tộc thiểu số. Vì vậy, có thể thể rút ra những bài học kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất, các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương nhận thức đúng đắn, đầy đủ vai trò, vị trí, tầm quan trọng của phát triển du lịch cộng đồng trong sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa phương. Để phát triển tốt du lịch cộng đồng cần căn cứ vào tình hình thực tế kinh tế – xã hội của địa phương đề ra được những chủ trương, chính sách hợp lí, huy động các tổ chức, đoàn thể và nhân dân cùng với ngành du lịch làm tốt công tác xã hội hóa trong lĩnh vực du lịch;
Thứ hai, thực hiện tốt công tác tuyên truyền về nâng cao nhận thức cho cộng đồng về phát triển du lịch; Ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ bản sắc dân tộc của cộng đồng dân cư tại điểm đến. Qua đó, thể hiện rõ vai trò tích cực của cộng đồng tại các điểm du lịch trên địa bàn trong quá trình tổ chức thực hiện phát triển du lịch cộng đồng;
Thứ ba, trong quá trình xây dựng và phát triển du lịch cần tận dụng tối đa thế mạnh của tiềm năng du lịch bao gồm nguồn tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn của tỉnh để phục vụ cho việc phát triển du lịch. Bảo tồn và phát huy hiệu quả các yếu tố truyền thống văn hóa của các dân tộc cư trú trên địa bàn tỉnh để tạo ra sự khác biệt về sản phẩm du lịch từ đó nâng cao sức mạnh cạnh tranh trong việc thu hút khách du lịch so với những điểm du lịch khác;
Thứ tư, đảm bảo sự công bằng trong việc phân chia lợi ích cho cộng đồng, tận dụng nguồn nhân lực lao động và lợi thế của dân cư địa phương, giúp cho người dân địa phương thấy rõ vị trí và trách nhiệm của mình trong việc phát triển du lịch cộng đồng.
Thứ năm, tăng cường quảng bá, tuyên truyền về hình ảnh du lịch cộng đồng độc đáo của các bản làng qua nhiều kênh thông tin để thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.
- Kết luận
Sự hợp tác công tư giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển du lịch cộng đồng đối với mỗi địa phương trên toàn thế giới và Việt Nam, trong đó có khu vực Tây Bắc. Chính quyền đóng địa phương đóng vai trò định hướng, tạo môi trường cho du lịch cộng đồng phát triển. Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, người dân đóng vai trò là người thực hiện những hoạt động du lịch cụ thể. Các thành phần tham gia vào du lịch cộng đồng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng chia sẻ lợi ích và cùng có trách nhiệm giữa gìn tài nguyên du lịch và những nét văn hoá truyền thống, chung tay xây dựng và phát triển du lịch cộng đồng theo hướng bền vững, góp phần giúp địa phương xoá đói, giảm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội./.
Người viết: Đỗ Thị Hằng, Hoàng Xuân Trọng

