Chuyên mục chính
Kỳ thị và phân biệt đối xử đang là rào cản đối với hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.
HIV/AIDS là mối hiểm họa đối với tính mạng con người, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước. Thời gian qua, nhiều hoạt động phòng, chống HIV/AIDS đã được triển khai thực hiện, song hiện nay vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV lại đang là rào cản chính đối với các hoạt động dự phòng, chăm sóc cũng như tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người nhiễm HIV/AIDS.
Qua các số liệu của nghiên cứu về chỉ số đánh giá mức độ kỳ thị với người nhiễm HIV ở Việt Nam do Mạng lưới người sống với HIV Việt Nam thực hiện cho thấy, người nhiễm HIV đang phải đối mặt với sự kỳ thị và phân biệt đối xử và đây không chỉ là thách thức đối với riêng người nhiễm HIV, khi dịch HIV/AIDS đang ở giai đoạn tập trung, chủ yếu lây truyền ở nhóm tiêm chích ma túy, nam tình dục đồng giới và phụ nữ mại dâm.
Do bị kỳ thị và phân biệt đối xử tại nơi làm việc, những người nhiễm HIV bị rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc buộc phải thay đổi công việc thường xuyên, phải thay đổi nơi ở hoặc không thuê được nhà ở, phải vật lộn để bảo đảm kế sinh nhai cho bản thân. Nghiên cứu của Mạng lưới người sống với HIV Việt Nam cũng cho thấy, có khoảng 3% người nhiễm HIV và 4% trẻ em là con của người nhiễm HIV đã bị từ chối không được đi học. Ngoài ra, sự kỳ thị và phân biệt đối xử còn xảy ra ở các cơ sở phi chính quy, ở gia đình, cộng đồng, bạn bè và hàng xóm, như bị vợ, chồng bỏ rơi hoặc người thân trong gia đình ruồng rẫy, bị cộng đồng xã hội tẩy chay, mất công ăn việc làm và tài sản; bị đuổi học, bị từ chối khám sức khỏe tại các cơ sở y tế, thiếu sự chăm sóc và hỗ trợ, thậm chí bị bạo hành. Chưa kể đến việc phải đối mặt với nguy cơ bị kỳ thị và phân biệt đối xử, hoặc sợ bị kỳ thị và phân biệt đối xử có thể dẫn tới hậu quả là số lượng người đi xét nghiệm tự nguyện ít đi, ít bộc lộ tình trạng nhiễm HIV của mình với người khác, ít thực hiện những hành vi bảo vệ và tiếp cận các dịch vụ điều trị, chăm sóc, hỗ trợ.
Với các hình thức kỳ thị phổ biến như xì xào, bàn tán, xúc phạm, nhục mạ, thậm chí bị bạo hành về thân thể. Do vậy mà người nhiễm HIV đã cố tình che giấu không tiết lộ tình trạng nhiễm HIV của mình ra ngoài phạm vi gia đình, đặc biệt có tỷ lệ đáng kể người nhiễm HIV không cho chồng, vợ hoặc bạn tình biết họ bị nhiễm HIV. Có thể thấy, sự kỳ thị đối với các hành vi liên quan đến HIV và AIDS có tác động rất lớn đến người nhiễm HIV, có thể khiến họ cảm thấy không an toàn trong xã hội, hình thành tâm lý bị cách ly, cô lập và tình trạng trở nên trầm trọng hơn khi xuất hiện sự tự kỳ thị của chính bản thân người nhiễm HIV.
Tình đến 31/12/2012, vả nước có 208.886 người nhiễm HIV còn sống được báo cáo, trong đó có 59.839 người ở giai đoạn AIDS, lũy tích tử vong do HIV/AIDS là 62.184 người, chưa kể đến những người không được báo cáo hoặc không biết về tình trạng nhiễm HIV của mình, nhưng đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu định lượng nào ghi nhận và đưa vào phân tích các hình thức và mức độ khác nhau về kỳ thị và phân biệt đối xử mà người nhiễm HIV gặp phải, cũng như thay đổi trong xu hướng và theo thời gian, dù một số hành vi kỳ thị đã được đưa vào các tài liệu nói về HIV/AIDS.
Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV ngày càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động dự phòng, chăm sóc cũng như tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người nhiễm HIV/AIDS. Để chống sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV/AIDS hiệu quả hơn và có thể cải thiện cuộc sống của người nhiễm HIV ngày càng tốt hơn, thời gian tới cần nỗ lực hơn nữa để bảo đảm tính bảo mật của người nhiễm HIV trong quá trình từ xét nghiệm đến điều trị, đặc biệt là tại các cơ sở y tế và dịch vụ xã hội. Đồng thời, tiến hành nghiên cứu nhằm đưa ra các quy định pháp luật cụ thể để bảo vệ quyền của người nhiễm HIV, cùng với đó là nỗ lực hơn nữa để bảo đảm việc tuân thủ và triển khai thực hiện các chính sách liên quan.
Mặt khác, cũng cần có cơ chế để hỗ trợ chính những người nhiễm HIV/AIDS trong việc tìm kiếm trợ giúp pháp lý để giải quyết các vi phạm về quyền của họ như khi bị buộc thôi việc, bị cản trở không được khám chữa bệnh hoặc học tập vì lý do nhiễm HIV.
Ngoài ra, việc giáo dục và huy động sự tham gia của cộng đồng và xã hội cũng rất quan trọng, vì đa số trường hợp kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV bắt nguồn từ trong cộng đồng. Trong đó, giáo dục cần bao gồm cả nâng cao nhận thức về HIV, hành vi nguy cơ để giảm bớt sự lo lắng và sợ hãi của cộng đồng, bởi đây đang là nguyên nhân dẫn tới sự kỳ thị của họ đối với HIV/AIDS. Thúc đẩy để cộng đồng và xã hội tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS, với các biện pháp cụ thể nhằm giúp người nhiễm HIV xây dựng lòng tự tin, giảm kỳ thị và học về các quy định luật pháp liên quan về chống kỳ thị và phân biệt đối xử.
Lê Thị Hiệp
Sưu tầm
Xây dựng ý thức và thói quen chấp hành luật giao thông đường bộ của sinh viên khoa kinh tế – những khó khăn và biện pháp
1. Đánh giá thực trạng giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường hiện nay
Hiện nay trên đường có rất nhiều loại phương tiện giao thông. Nếu chúng ta không thực hiện đúng qui định của pháp luật an toàn giao thông thì có thể gây tai nạn cho mình và người khác.
Hằng ngày, thực trạng tai nạn giao thông với những con số, hình ảnh, bài viết, phóng sự…làm chúng ta phải giật mình. Mỗi năm trong cả nước có hàng ngàn gia đình mất đi người thân hay phải mang theo tàn tật suốt đời không còn khả năng lao động,…
Ở trường ta hiện nay đang diễn ra một thực trạng là phần lớn học sinh tham gia giao thông còn ý thức chưa cao như phóng nhanh, vượt ẩu, đi bộ và băng qua đường không đúng qui định, chạy xe đạp dàn hàng hai, ba, thậm chí là năm, sáu trên đường gây cản trở giao thông… Nhiều trường hợp không đội mũ bảo hiểm và vượt đèn đỏ khi đi qua các nút giao thông có đèn tín hiệu…
Những khó khăn, trở ngại.
+ Nhà trường chưa có biện pháp hiệu quả để giáo dục các học sinh – sinh viên
+ Một nhóm đối tượng khác biết luật pháp, hiểu pháp luật, được đào tạo bài bản nhưng vẫn cố tình vi phạm pháp luật. Biết mình sai, họ vẫn cố cãi nhằm “gỡ gạc” tội của mình. Thậm chí, có kẻ còn chống đối với lực lượng chức năng, chửi thề; liều lĩnh và mất nhân cách.
+ Người thi hành công vụ còn mỏng, trang thiết bị và điều kiện còn hạn chế, phần khác, chế tài xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông (TTATGT) chưa mang tính răn đe, một số cán bộ còn bỏ qua lỗi của người vi phạm…khiến họ “nhờn” luật.
2. Những biện pháp có hiệu quả nhằm xây dựng ý thức và thói quen tốt khi tham gia giao thông của sinh viên
– Trước hết, mỗi bản thân con người tham gia giao thông hãy tự giác cẩn thận khi tham gia giao thông
– Xây dựng quy chế phối hợp với Công an cùng cấp; phối hợp giữa nhà trường với các cấp chính quyền ở địa phương để triển khai thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh, TTATGT trường học.
– Trang bị kiến thức an toàn giao thông cho sinh viên. Nâng cao ý thức chấp hành Luật Giao thông Đường bộ cho học sinh, sinh viên
– Tăng cường công tác giáo dục đảm bảo ATGT thông qua tuyên truyền cho học sinh, sinh viên về đảm bảo TTATGT, Tuyên truyền lưu động Luật Giao thông đường bộ, trang bị 100 bảng tin ATGT tại các trường học, đồng thời kết hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm…có những hành động cụ thể nhằm nâng cao nhận thức về TTATGT trong học sinh các cấp.
Về các biện pháp cụ thể, chúng ta có thể chỉ đạo các trường xây dựng “cổng trường an toàn”, ngoài ra còn xây dựng “cổng trường 5 không, 3 có” và đưa việc chấp hành Luật Giao thông Đường bộ làm một tiêu chí để đánh giá đạo đức của học sinh, cũng như một tiêu chí để đánh giá thi đua của nhà trường như: tổ chức cho học sinh, sinh viên ký cam kết không vi phạm Luật Giao thông Đường bộ và có những chế tài thích hợp trong việc đánh giá, nhận xét cuối năm về hạnh kiểm, đạo đức.
– Xây dựng văn hóa giao thông trong văn hóa học đường nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông (TNGT) một cách bền vững, nên chăng, chúng ta phải bắt đầu xây dựng một môi trường VHGT lành mạnh với những tiêu chuẩn, mô hình cụ thể để tạo nên thói quen ứng xử có văn hóa, đúng pháp luật khi tham gia giao thông.
Văn hóa giao thông (VHGT) biểu hiện dưới nhiều khía cạnh, trong đó, người tham gia giao thông tự giác chấp hành các quy định của pháp luật, nghiêm túc chịu phạt nếu sai phạm, ứng xử văn minh, lịch sự khi xảy ra va chạm là thái độ có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng xã hội.
+ Tôn trọng pháp luật: Xây dựng VHGT là phải tập trung nâng cao ý thức, thay đổi suy nghĩ của người tham gia giao thông cần phải tôn trọng pháp luật.
+Trách nhiệm cộng đồng: Điều 32, Luật Giao thông đường bộ quy định: người đi bộ chỉ được qua đường ở những nơi có đèn tín hiệu, có vạch kẻ đường, có cầu vượt, có hầm dành cho người đi bộ. Ở những nơi không có các điều kiện này, người đi bộ khi qua đường phải tự chịu trách nhiệm về an toàn cho mình.
– Công tác phối hợp với các sở, ngành có liên quan trong việc giáo dục an toàn giao thông trong học sinh, sinh viên.
+ Các cơ sở giáo dục phổ thông và giáo dục phải thường xuyên có nhiệm vụ đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy an toàn giao thông trong trường học; lấy thái độ, hành vi về thực hiện an toàn giao thông của học sinh là một trong những tiêu chí đánh giá rèn luyện, xếp loại.
+ Kịp thời nhắc nhở sinh viên chấp hành các quy định về ATGT cũng như điều tiết, sắp xếp khu vực dừng, đỗ xe hợp lý, tránh ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm.
+ Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các trường trung học phổ thông chỉ đạo quyết liệt không để xảy ra tình trạng học sinh không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe mô tô, xe gắn máy, tình trạng học sinh chưa đủ tuổi, chưa có giấy phép lái xe điều khiển xe mô tô, xe gắn máy đến trường.
+ Phối hợp giữa lực lượng Công an tỉnh với ngành Giáo dục – Đào tạo trong công tác đảm bảo TTATGT thường xuyên được quan tâm, góp phần nâng cao sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật về TTATGT trong đội ngũ cán bộ, công nhân viên, giáo viên, học sinh, sinh viên lực lượng Cảnh sát Giao thông tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm TTATGT.
+ Công an các đơn vị, địa phương phối hợp với các trường học tổ chức tuyên truyền, vận động, sau đó sẽ tiến hành kiểm tra, chấn chỉnh và xử lý nghiêm các trường hợp học sinh, sinh viên vi phạm Luật Giao thông Đường bộ.
Thiết nghĩ, các biện pháp nêu trên nếu được thực hiện đồng bộ thì sẽ tạo được một phong trào thi đua mạnh mẽ trong ngành Giáo dục và sẽ đạt được những kết quả tốt trong việc đảm bảo TTATGT trong học sinh, sinh viên nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Lê Thị Hiệp
Sưu tầm
TB: Bộ môn Quản trị kinh doanh tổ chức sinh hoạt chuyên đề tháng 11
Vào hồi 8h thứ 6 ngày 28 tháng 11 năm 2014, tại Văn phòng Trung tâm Đào tạo và Dịch vụ kinh tế – Trường ĐH Tây Bắc sẽ diễn ra buổi Seminar với chủ đề “Một số phương pháp quản trị quá trình sản xuất và ứng dụng của nó trong thực tiễn” do Ths. Vũ Quang Hưng chủ trì. Buổi Seminar tập trung vào các mục tiêu chính sau đây
Sản xuất là một lĩnh vực hết sức quan trọng và rộng trong 8 lĩnh vực của doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp. Quản trị hoạt động sản xuất là tương đối đối phức tạp, để điều hành hoạt động sản xuất có hiệu quả thì các nhà quản trị trong các doanh nghiệp sử dụng nhiều phương pháp sản xuất khác nhau, chính vì vậy mà nhà quản trị cần phải hiểu rõ đặc điểm cũng như ưu và nhược điểm của từng phương pháp đó, ứng dụng nó trong các thời kỳ, các giai đoạn khác nhau sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp và môi trường kinh doanh biến động.
Để có được cái nhìn tổng quát nhất về quản trị quá trình sản xuất và thông qua buổi Sermina sẽ là cơ hội cho nhóm báo cáo có thể tiếp thu, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm của các đồng nghiệp trong Bộ môn và các thành viên khác quan tâm. Buổi Seminar này cũng hướng đến việc hoàn thiện bài giảng và thực tế học phần Quản trị kinh doanh 1 và rèn nghề 2. Seminar với các báo cáo chính:
Báo cáo 1: Một số phương thức phối hợp các bước công việc – Ths. Vũ Quang Hưng
Báo cáo 2: Phương pháp sản xuất Kanban và ứng dụng – CN. Đặng Thị Huyền Mi
Báo cáo 3: Phương pháp công nghệ tối ưu (OPT) và ứng dụng – Ths. Lê Thị Hiệp
Báo cáo 4: Phương pháp đúng thời điểm (JIT) và ứng dụng – Ths. Lã Thị Bích Ngọc
Trân trọng kính mời các đồng nghiệp, các bạn sinh viên, những người quan tâm tới dự và có các ý kiến đóng góp để buổi seminar thành công!
Thực trạng hoạt động cho vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Sơn La
Lời mở đầu :
1.Tổng quan về Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh tỉnh Sơn La
Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Sơn La là đơn vị trực thuộc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thônViệt Nam được thành lập theo quyết định số 66/NH-QĐ ngày 8 tháng 7 năm 1988 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
– Đến nay mạng lưới hoạt động của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Sơn La có
+ 01 chi nhánh cấp I loại I
+ 10 chi nhánh loại 3
+ 10 phòng giao dịch
– Tổng số lao động đến 31/12/2008 là: 331 người
– Tổng nguồn vốn đến 31/12/2008: 2.127 tỉ
– Tổng dư nợ: 2.665 tỉ
– Qua hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Sơn La đã được nhà nước, cấp ngành ghi nhận và khen thưởng:
+ 01 Huân chương lao động hạng Ba giai đoạn 1993 – 1997
+ 01 Huân chương lao động hạng Nhì giai đoạn 2003 – 2007
+ Bằng khen Thủ tướng chính phủ cho công tác Kế toán ngân quỹ năm 2008
+ 3 lần được tặng cờ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho đơn vị “ Đã có thành tích xuất sắc của UBND tỉnh Sơn La các năm từ 1995 đến năm 2007
+ 4 lần được bộ Công an tặng cờ cho đơn vị “Có thành tích xuất sắc trong phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc”.
+ 1 lần được tặng cờ của UBND tỉnh Sơn La cho đơn vị “Có thành tích xuất sắc trong phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc năm 2005”.
Và nhiều phần thưởng cao quí khác
Quá trình hình thành và phát triển Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Sơn Là qua 2 lần đổi tên (Ngân hàng nông nghiệp; Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn) đã trải qua nhiều khó khăn, thử thách, Ngân hàng Sơn La đã từng bước vượt qua khó khăn, ổn định và phát triển lớn mạnh, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước để thực hiện mục tiêu”Dân giàu, Nước mạnh – Xã hội Công bằng – Dân chủ và Văn minh”
2.Hoạt động cho vay của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh tỉnh Sơn La
Bảng 1. Tình hình sử dụng vốn của Chi Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
chi nhánh tỉnh Sơn La
Đơn vị: Triệu đồng
|
Chỉ tiêu |
Năm 2010 |
Năm 2011 |
Năm 2012 |
||
| Doanh số cho vay | Tổng | Tổng | Biến động (+/-) % | Tổng | Biến động (+/-) % |
| 995.700 | 1.215.7000 | 22,1 | 1.392.360 | 14,5 | |
|
|||||
| – Ngắn hạn | 720.330 | 779.900 | 8,3 | 686.800 | (-11,9) |
| – Trung và dài hạn | 275.370 | 435.800 | 58,3 | 705560 | 61,9 |
|
|
|||||
| – Doanh nghiệp | 363.100 | 475.200 | 30,9 | 722.250 | 52 |
| – Hộ gia đình, cá thể | 632.600 | 740.500 | 17,1 | 670.110 | (-10) |
|
|||||
| – Nông nghiệp | 119.484 | 109.413 | (-8,4) | 178.520 | 63,2 |
| – Công nghiệp | 517.764 | 670.637 | 29,5 | 713.440 | 6,4 |
| – Dịch vụ | 358.452 | 435.650 | 21,5 | 500.400 | 14,9 |
(Nguồn: Báo cáo Tổng kết hoạt động kinh doanh của Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chi nhánh Sơn La giai đoạn 2010 – 2012)
Nhìn chung doanh số cho vay có xu hướng tăng trong ba năm 2010-2012,năm 2011 tăng 22,1% so với năm 2010, đến năm 2012 tăng 14,5% với năm 2011.
Theo thời gian: doanh số cho vay ngắn hạn biến động, năm 2011 tăng 8,3% so với năm 2010 tương đương 59.570 triệu, sang năm 2012 giảm 11,9% so với năm 2011 tức là giảm 93.100 triệu . Trong khi đó doanh số cho vay trung và dài hạn tăng liên tục từ 275.370 năm 2010 đến 435.800 triệu đồng năm 2011 và 705.560 triệu đồng năm 2012. Điều này cho thấy được, chi nhánh Sơn La đã chú trọng cho vay trung và dài hạn đồng thời cũng thấy được tiềm năng phát triển của phân khúc cho vay này trong những năm tiếp theo: tăng trưởng cả về quy mô lẫn tỷ trọng trong tổng doanh số cho vay. Do vậy, ngân hàng cần có các biện pháp để nâng cao chất lượng tín dụng, thu hút khách hàng.
Theo thành phần kinh tế: doanh nghiệp là khách hàng truyền thống và chủ yếu của ngân hàng. Giá trị vay của thành phần này ngày càng tăng cao (363.100 triệu đồng năm 2010 tăng lên mức 722.250 năm 2012) và luôn chiếm tỷ trọng lớn đạt trên 50% trong năm 2012 và có xu hướng tăng lên trong tương lai. Tiếp theo đó là thành phần cho vay cá thể, hộ gia đình thay đổi trong ba năm: năm 2011 là 740.500 triệu đồng tăng so với năm 2010 là 17,1%, năm 2012 lại giảm 10% so với năm 2011 tương đương mức giảm 70.390 triệu đồng còn 670.110 triệu đồng. Tuy thành phần này đứng sau doanh nghiệp nhà nước nhưng nhìn chung đây cũng là khách hàng tiềm năng mà ngân hàng cần quan tâm hơn trong những năm tiếp theo.
Theo ngành kinh tế: trong khi doanh số cho vay ngành nông nghiệp biến động thì ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên liên tục.
+ Nông nghiệp: doanh số cho vay nông nghiệp giảm 8,4% so với mức 119.484 triệu năm 2010 xuống mức 109.413 triệu năm 2011. Nhưng chỉ tiru này lại tăng mạnh trong năm 2012 đạt mức 178.520 triệu đồng tương ứng mức tăng 63,2%, vượt qua cả mức cho vay nông nghiệp năm 2010.
+ Công nghiệp: doanh số cho vay công nghiệp tăng nhưng không đều và có xu hướng giảm tốc độ. Năm 2011 tăng 29,5% so với mức 517.764 triệu năm 2010 đạt 670.637 triệu đồng, tiếp theo trong năm 2012 tốc độ tăng giảm chỉ còn 63,2% đạt mức 713.440 triệu đồng.
+ Dịch vụ: cũng giống như công nghiệp doanh số cho vay dịch vụ có xu hướng giảm tốc độ tăng trưởng: tăng 21,5% trong năm 2011 là 435.650 triệu đồng, tăng 14,9% đạt 500.400 triệu trong năm 2012.
Xu hướng tăng này hoàn toàn hợp lí với xu hướng phát triển hiện nay của nền kinh tế Việt Nam công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
3. Đánh giá về thực trạng hoạt động cho vay của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh tỉnh Sơn La
Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Sơn La được thành lập trong điều kiện tình hình kinh tế có nhiều biến động, giá vàng giá xăng, dầu trên thế giới liên tục tăng. Hoạt động Ngân hàng đang trong giai đoạn phát triển nóng. Nhiều Ngân hàng thương mại cổ phần được thành lập và đang trong giai đoạn mở rộng thị trường, chiếm lĩnh thị phần bằng cách đẩy mạnh mở các chi nhánh. Trong khi đó Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Sơn La đang phát triển với tốc độ chậm, chịu sức ép rất lớn từ các ngân hàng thương mại ngoài quốc doanh về tăng lãi suất huy động và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ và hình thấp cấp tín dụng. Tuy vậy, hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Sơn La đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ.
Mặc dù đã đạt được những kết quả tốt trong hoạt động tín dụng như đã tăng trưởng dư nợ, tăng thị phần, chất lượng tín dụng được nâng cao từng bước. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế như thị phần chiếm lĩnh còn thấp so với mức bình quân một chi nhánh cấp I của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam tại Sơn La. Việc thu hút các khách hàng lớn có uy tín và hoạt động kinh doanh hiệu quả chưa thật cao.
4. Các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay của Ngân hàng phát triển Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh tỉnh Sơn La
–Thực hiện chính sách cho vay phù hợp với tình hình thực tế
-Nâng cao chất lượng công tác thẩm định
-Xây dựng chiến lược khách hàng đúng đắn hiệu quả
-Nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ của chi nhánh
5. Kết luận
Quá trình hòa nhập và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta đang dần hoàn thiện thì vai trò của các ngân hàng thương mại là rất lớn. Các ngân hàng thương mại phải tự mình phát triển vững vàng hơn nữa để giúp không chỉ bản thân ngân hàng mà còn đóng vai trò đầu tàu trong nền kinh tế giúp đất nước ta bằng với các nước bạn. Chi nhánh Sơn La nói riêng và toàn bộ ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn nói chung cần phải tìm ra những giải pháp giúp cho ngân hàng mình được tốt hơn. Trong quá trình tìm hiểu về chi nhánh cũng như trong phạm vi cho phép, đề tài đã khái quát những vấn đề về thực trạng cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Sơn La, yêu cầu và ý nghĩa của việc hoàn thiện hoạt động cho vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Sơn La. Trên cơ sở phân tích thực trạng cho vay tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Sơn La, tìm ra những yếu kém và những nguyên nhân làm phát sinh những yếu kém đó đề án đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay tại chi nhánh. Đồng thời, với định hướng và quan điểm phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, chiến lược phát triển kinh tế xã hội và của ngành ngân hàng, đề tài cũng đề xuất một số kiến nghị với Chính phủ, các cơ quan ban ngành, Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam nhằm thực hiện các giải pháp đã nêu. Góp phần từng bước nâng cao hoạt động cho vay tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Sơn La, tiến tới phát triển bền vững, sẵn sàng đáp một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng và đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của chi nhánh.
Nguyễn Thành Công
Lớp K52 ĐH Kế toán A
Khoa Kinh tế tổ chức hoạt động chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
Ngày nhà giáo Việt Nam (hay ngày lễ Hiến chương nhà giáo Việt Nam) là một ngày kỷ niệm được tổ chức hằng năm vào ngày 20 tháng 11. Đây là ngày lễ của ngành giáo dục và là ngày “tôn sư trọng đạo” nhằm mục đích tôn vinh những thầy giáo, cô giáo đang cống hiến cho sự nghiệp giáo dục. Hòa chung với không khí hân hoan chào đón ngày 20/11, Khoa Kinh tế , trường Đại học Tây Bắc đã long trọng tổ chức các hoạt động chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam.
Để động viên và khích lệ tinh thần của các CBGV Khoa Kinh tế, tại Văn phòng Khoa Kinh tế, BCH Công đoàn Khoa đã tổ chức giao lưu giữa 3 bộ môn: QTKD, Kế toán và Kinh tế với nhiều nội dung hấp dẫn và bổ ích. Đây là cơ hội không chỉ để các bộ môn thêm gắn bó, đoàn kết mà còn là sân chơi giúp mỗi CBGV có những giây phút thư giãn ngoài thời gian giảng dạy, công tác.
Cũng trong dịp lễ, Khoa Kinh tế cũng đã vinh dự đón tiếp Đại diện của các đơn vị (Mobifone chi nhánh Sơn La, Công ty CP Cơ khí Sơn La, Công ty CP Tư vấn Đầu tư Giao thông Sơn La) tới chúc mừng CBGV trong Khoa nhân ngày 20/11. Tại đây, các đơn vị cũng bày tỏ mong muốn củng cố mối quan hệ hiện nay với Khoa, mở ra cơ hội cho sự hợp tác, liên kết lâu dài giữa Khoa và các đơn vị.
Phương Trang
Đại hội Liên chi đoàn Khoa Kinh tế nhiệm kỳ 2014 – 2017
Vào ngày 17/11/2014, tại Hội trường A2, được sự nhất trí của Đoàn trường Đại học Tây Bắc, Chi ủy chi bộ khoa Kinh tế, Liên chi đoàn Khoa Kinh tế đã long trọng tổ chức đại hội Liên chi đoàn nhiệm kì 2014 – 2017. Đại hội có sự hiện diện của đ/c Hoàng Xuân Trọng (phó Bí thư Đoàn trường), đ/c Đoàn Thanh Hải (phó Bí thư chi bộ khoa Kinh tế), các giảng viên khoa Kinh tế cùng toàn thể 133 đoàn viên suất sắc đại diện cho các chi đoàn.
Tại Đại hội, đ/c Đặng Công Thức, Bí thư LCĐ nhiệm kỳ 2012 – 2014 đã trình bày báo cáo tổng kết đánh giá hoạt động đoàn trong nhiệm kỳ qua, theo đó LCĐ đã đạt được nhiều thành tích ghi nhận trong các mảng hoạt động tuy nhiên còn vướng mắc nhiều khó khăn, nhất là việc phải kiện toàn thường xuyên BCH cũ do có nhiều đ/c đã tốt nghiệp trong nhiệm kỳ. Đồng thời, đ/c Đặng Công Thức cũng đã nghiêm túc nhìn nhận những hạn chế của BCH cũ để tìm được hướng giải pháp khắc phục phù hợp trong nhiệm kỳ 2014 – 2017.
Đại hội cũng đã lắng nghe bản phương hướng hoạt động công tác đoàn nhiệm kỳ 2014 – 2017 do đ/c Tòng Phương Trang, Phó Bí thư LCĐ nhiệm kỳ 2012 – 2014 trình bày. Nhằm tìm ra phương hướng hoạt động phù hợp và hiệu quả trong nhiệm kỳ 2014 – 2017, tại Đại hội còn có các báo cáo tham luận bổ sung cho bản phương hướng từ các đoàn viên ưu tú trong LCĐ về các mảng củng cố công tác Đoàn, Hội và phong trào thanh niên; rèn luyện tư tưởng đạo đức tác phong; học tập và NCKH; văn – thể – mỹ; tham gia xây dựng Đảng.
Tới tham dự Đại hội, thay mặt cho BCH Đoàn trường, đ/c Hoàng Xuân Trọng đã có ý kiến phát biểu chỉ đạo. Theo đ/c các hoạt động trong báo cáo tổng kết và báo cáo phương hướng của LCĐ cần được bổ sung đầy đủ, cụ thể. Đặc biệt, các hoạt động trong nhiệm kỳ tới gắn chặt với nhu cầu của đoàn viên trong toàn LCĐ để đảm bảo tính hiệu quả và thiết thực.
Đại diện cho Chi ủy chi bộ Khoa Kinh tế, đ/c Đoàn Thanh Hải (phó Bí thư chi bộ) cũng đã có những góp ý sâu sắc đối với phương hướng hoạt động của LCĐ trong nhiệm kỳ tới. Theo đó, các mảng hoạt động của LCĐ cần được cụ thể hóa và LCĐ cần bám sát hơn trong việc thực hiện. Đây thật sự là những đóng góp rất quý báu đối với BCH LCĐ nhiệm kỳ 2014 – 2017.
Đại hội cũng đã tiến hành công việc quan trọng nhất, đó là tìm ra một BCH mới có đủ năng lực và tâm huyết để lãnh đạo phong trào của LCĐ, phát huy những thành công và thúc đẩy hoạt động của LCĐ trong nhiệm kỳ 2014 – 2017 sâu rộng và hiệu quả hơn. Dựa trên kết quả bầu BCH, các đ/c đã trúng cử vào BCH nhiệm kỳ 2014 – 2017 bao gồm: Đ/c Đặng Công Thức, đ/c Tòng Phương Trang, đ/c Trần Trung Hiếu (K53 ĐH QTKD), đ/c Lường Thu Hà (K54 ĐH Kế toán), đ/c Phạm Hoài Giang (k55 ĐH Kế toán), đ/c Trịnh Bá Dũng (K53 ĐH Kế toán), đ/c Nguyễn Thị Thanh (K53 ĐH Kế toán), đ/c Lèo Phương Thảo (k54 CĐ Kế toán) và đ/c Nguyễn Cao Kỳ Duyên (K53 ĐH TCNH).
Đại hội LCĐ Khoa Kinh tế nhiệm kỳ 2014 – 2017 đã khép lại thành công tốt đẹp. Đây sẽ là nhiệm kỳ hứa hẹn những thử thách mới, kỳ vọng mới và những thành công mới đối với LCĐ Khoa Kinh tế.
Phương Trang
Khoa Kinh tế tổ chức các hoạt động chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
Khoa Kinh tế tổ chức hội nghị đối thoại sinh viên năm học 2014-2015
Thực hiện kế hoạch năm học 2014 – 2015, tại hội trường A2, tối ngày 29/10/2014, Khoa kinh tế đã tổ chức thành công “Hội nghị đối thoại sinh viên” nhằm tạo một cầu nối giữa giảng viên và sinh viên trong Khoa, tạo cơ hội cho sinh viên các khóa có cơ hội bày tỏ những trăn trở, thắc mắc về những vấn đề mà mình quan tâm.
Đến dự với hội nghị, về phía Chi bộ và Ban chủ nhiệm Khoa có cô Nguyễn Thị Lan Anh Bí thư chi bộ, trưởng khoa kinh tế, cô Đoàn Thanh Hải (Phó bí thư chi bộ, phó trưởng khoa kinh tế) và thầy Hoàng xuân Trọng (Phó bí thư Đoàn trường, Phó trưởng khoa kinh tế). Về phía các bộ môn có cô Vũ Thị Sen (Trưởng bộ môn kế toán), thầy Vũ Quang Hưng (Trưởng bộ môn quản trị kinh doanh) và thầy Đặng Công Thức (Bí thư liên chi đoàn, Trưởng bộ môn kinh tế). Hội nghị còn có sự góp mặt đầy đủ của các cố vấn học tập khoa kinh tế và hơn 220 sinh viên gồm BCH chi đoàn, BCS lớp K52, K53 và toàn thể bạn sinh viên K54, K55.
Mở đầu hội nghị là 02 báo cáo trình bày về những vấn đề liên quan đến quyền lợi và lợi ích của sinh viên cũng như đưa ra định hướng cho sinh viên trong học tập, rèn luyện để các bạn sinh viên nắm rõ được quyền lợi, trách nhiệm của bản thân, và tự đặt ra tiêu chí phấn đấu cho riêng mình.
Cụ thể, trong báo cáo đầu tiên, thầy Đặng Công Thức đã trình bày về quy trình phát triển Đảng, những tiêu chuẩn và quá trình để được xét công nhận đối tượng Đảng, xét thẩm tra hồ sơ lí lịch và xét kết nạp Đảng đối với đoàn viên là sinh viên. Ngoài ra, thầy đã nêu rõ hiện trạng và những vấn đề mà sinh viên chưa làm được và đưa ra những tiêu chí để các bạn sinh viên cần phấn đấu, đặc biệt là các bạn sinh viên khoá mới. Đồng thời, khuyến khích các sinh viên hưởng ứng tham gia các hoạt động do Đoàn trường cũng như các hoạt động của khoa, của liên chi tổ chức.
Hội nghị còn được lắng nghe báo cáo về chế độ chính sách trong quá trình học tập đối với sinh viên do cô Đoàn Thanh Hải trình bày. Trong báo cáo cô đã nêu rõ những chế độ chính sách dành cho sinh viên; tiêu chuẩn, đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi và đưa ra định hướng khuyến khích các bạn sinh viên phấn đấu trong học tập, rèn luyện để đạt được các học bổng khuyến khích học tập của Trường.
Sau hai bản báo cáo trên, phần đặc biệt nhất của hội nghị là đối thoại trực tiếp giữa các thầy cô và sinh viên trong Khoa với những chia sẻ quý báu của thầy cô giành cho các bạn sinh viên để các bạn sinh viên có thể giải đáp những thắc mắc của mình trong học tập, rèn luyện, về công tác phát triển Đảng, từ đó có được định hướng phấn đấu rõ ràng hơn.
Trong không khí thân thiện, cởi mở, các bạn sinh viên trong Khoa đã mạnh dạn đưa ra rất nhiều câu hỏi và đã nhận được sự giải đáp rất tận tình của các thầy cô. Các câu hỏi trong cuộc đối thoại là những thắc mắc xoay quanh các vấn đề như: các điều kiện và quá trình phấn đấu trở thành Đảng viên, các chế độ chính sách cho sinh viên trong thời gian tới và cách thức học tập dành cho 2 khối ngành QTKD và Kế toán. Các câu hỏi đều đã giải đáp rõ ràng và các thầy cô còn có những chia sẻ, hướng dẫn các kĩ năng cho sinh viên khi ra trường để làm việc một cách có hiệu quả và cung cấp những thông tin liên quan đến tuyển dụng cho các sinh viên năm cuối.
Hội nghị đối thoại với sinh viên năm học 2014 – 2015 đã thu hút được đông đảo giảng viên và sinh viên khoa kinh tế tham gia và giúp các bạn sinh viên nhận thức được trách nhiệm của mình, biết thêm về quyền lợi và lợi ích của mình trong quá trình tham gia học tập tại trường. Hội nghị đã khép lại với hiệu quả tích cực, góp phần tạo động lực thúc đẩy các bạn sinh viên trong khoa để phấn đấu nâng cao thành tích trong học tập và rèn luyện của mình. Đồng thời, đóng góp vào thành tích chung của Khoa và Nhà trường.
Tòng Phương Trang
Lèo Phương Thảo, lớp K54 CĐ Kế toán


















































