Chuyên mục chính

Bộ môn Kinh tế tổ chức thành công sinh hoạt chuyên đề lần 3 – tháng 11

Chiều ngày 27.11.2014, tại văn phòng Khoa Kinh tế đã diễn ra buổi sinh hoạt chuyên đề “ Thực trạng hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2009- 2013” do bộ môn Kinh tế tổ chức. Tham dự buổi sinh hoạt có đ/ c Đặng Công Thức- trưởng bộ môn Kinh tế cùng các giảng viên trong bộ môn Kinh tế.
Tại buổi sinh hoạt chuyên đề, báo cáo chính, Đ/c Mai Nguyễn Phương Dung đã trình bày báo cáo “Thực trạng hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2009- 2013” trong đó trình bày những nội dung chủ yếu như: khái niệm doanh nghiệp nhà nước, đặc điểm, cách phân loại các doanh nghiệp nhà nước và đặc biệt là làm rõ thực trạng hoạt động của các các doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2009-2013, cụ thể như: số lượng các doanh nghiệp giảm dần, hiệu quả hoạt động thấp, khả năng cạnh tranh kém, trình độ kĩ thuật, công nghệ lạc hậu, tình trạng tham nhũng, lãng phí gây thất thoát tài sản nhà nước… từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới. Có thể nói, những nội dung mà báo cáo chính nêu ra đã phần nào khắc họa nên bức tranh toàn cảnh về hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian qua, thực sự rất hấp dẫn và thu hút người nghe, hơn thế nữa cũng là cơ hội để các giảng viên trong bộ môn cập nhập, bổ sung thêm các kiến thức, thông tin thực tế, phục vụ cho quá trình lên lớp.
Đóng góp cho báo cáo của đ/c Mai Nguyễn Phương Dung, đ/c Tòng Phương Trang trình bày báo cáo “Những vấn đề lý luận chung về doanh nghiệp nhà nước”, đ/c Đỗ Thu Hiền trình bày báo cáo” Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2009- 2013” đ/c Lò Huyền Trang trình bày báo cáo” Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam”…Về cơ bản, những báo cáo này đã mở thêm các hướng nghiên cứu mới, đóng góp thêm những nội dung mới cho báo cáo chính của đ/c Mai Nguyễn Phương Dung, tạo cơ hội học hỏi, trao đổi chuyên môn, không chỉ là giữa các báo cáo viên với nhau mà còn với tất cả các giảng viên tham dự buổi sinh hoạt chuyên đề. Ngoài ra, các giảng viên tham dự buổi sinh hoạt chuyên đề còn tiến hành đóng góp ý kiến sôi nổi, tích cực cho các báo cáo trình bày ở trên.

20141127_141039

Kết thúc buổi sinh hoạt chuyên đề, đ/c Đặng Công Thức đã tổng kết lại các nội dung chính của buổi sinh hoạt, yêu cầu các giảng viên tiếp tục nghiên cứu, cập nhập thông tin về các vấn đề xoay quanh loại hình doanh nghiệp nhà nước, đồng thời phải luôn giữ thái độ tích cực học hỏi, trao đổi thẳng thắn, sôi nổi, để buổi sinh hoạt chuyên đề thực sự là cơ hội cho các giảng viên nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ của mình.

Mai Nguyễn Phương Dung

Bộ môn Kinh tế tổ chức thành công sinh hoạt chuyên môn tháng 11 – Lần 2

Ngày 6/11/2014 tại Văn phòng Trung tâm Đào tạo và Dịch vụ Kinh tế, Bộ môn Kinh tế đã tổ chức buổi sinh hoạt chuyên môn với 3 nội dung lớn: Đóng góp cho các bài báo gửi đăng trên Thông tin Khoa học và công nghệ  số 2 năm 2014; thông qua kết quả kiểm tra Giáo án; Kế hoạch thi giáo viên dạy giỏi bộ môn Kinh tế năm học 2014 – 2015.

Dưới sự chủ trì của đồng chí Đặng Công Thức, Bộ môn đã tiến hành họp đóng góp ý kiến cho 8 bài báo của các đồng chí trong Bộ môn sẽ gửi đăng trên Thông tin Khoa học và công nghệ  số 2 năm 2014. Kết quả sau 3 tiếng làm việc nghiêm túc, 8 bài báo của các tác giả đã được các đồng chí trong Bộ môn đóng góp ý kiến về mặt nội dung và hình thức để có hướng chỉnh sửa bài báo của mình một cách tốt nhất với các nội dung được đề nghị chỉnh sửa như sau: Tên bài báo, phạm vi nghiên cứu, bổ sung số liệu cần thiết, …

WP_20141106_008

Nội dung thứ hai, Đồng chí Đặng Công Thức đã thông qua kết quả kiểm tra Giáo án của các đồng chí trong Bộ môn với kết quả 3/19 giáo án chưa đạt yêu cầu. 3 giáo án trên đã nhận được đóng góp ý kiến của người kiểm tra với các nội dung cần chỉnh sửa như sau: Bổ sung tài liệu tham khảo cho mỗi chương; Phân bổ thời gian cụ thể cho từng chương; Cập nhật các nội dung mới.

Cuối cùng, Bộ môn đã họp bàn kế hoạch tổ chức cuộc thi Giáo viên dạy giỏi Bộ môn Kinh tế năm học 2014 – 2015 với nội dung cơ bản như sau: thống nhất thời gian tổ chức, cách thức tổ chức cuộc thi; giao cho đồng chí Đặng Huyền Trang và đồng chí Mai Nguyễn Phương Dung xây dựng Kế hoạch chi tiết tổ chức cuộc thi.

Lò Thị Huyền Trang

Bộ môn Kinh tế tổ chức thành công sinh hoạt chuyên đề tháng 11 – Lần 2

Ngày 13/11/2014, tại văn phòng khoa, bộ môn Kinh tế đã tổ chức buổi sinh hoạt chuyên môn với chủ đề: “ Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ” do Đ/c Lò Thị Huyền Trang báo cáo chính.

Mở đầu buổi sinh hoạt, đ/c Đặng Công Thức – Trưởng bộ môn Kinh tế giới thiệu sơ bộ về nội dung buổi sinh hoạt. Tiếp đó Đ/c Lò Thị Huyền Trang trình bày nội dung phần nghiên cứu về tổng quan lý luận về thuế ( thuế và các chỉ tiêu đánh giá một hệ thống thuế tốt ) và tập trung sâu vào phần Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đ/c nhấn mạnh: hiện nay tại Việt Nam đã tăng tỷ trọng nguồn thu từ thuế tiêu dùng và thuế trực thu, tuy nhiên nguồn thu từ thuế đánh vào thương mại quốc tế lại có xu hướng giảm mà nguyên nhân chính là xuất phát từ các khâu: đăng ký thuế, kê khai và nộp thuế, xử lý hoàn thuế, xử lý thu nợ, kiểm tra và thanh tra người nộp thuế.

10718222_540345786096801_1079572669_o

Sau khi báo cáo chính trình bày các kết quả nghiên cứu đã diễn ra sự trao đổi sôi nổi giữa các thành viên trong bộ môn xoay quanh thực trạng và giải pháp nhằm hoàn chỉnh hệ thống thuế hiệu quả nhất tại Việt Nam.

Phần chia sẻ của Đ/c Phan Nam Giang bao gồm nội dung chính sau:

– Nếu báo cáo chính phân tích được sâu sắc, rõ ràng sự khác biệt của hệ thống thuế tại Việt Nam trong giai đoạn trước khi hội nhập và sau khi hội nhập kinh tế quốc tế sẽ thấy được tổng thể bức tranh về hệ thống thuế và các “điểm khuyết” cần xoáy sâu.

– Số liệu khá đa dạng và phong phú nhưng cần cập nhật thêm nhiều số liệu mới để kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục hơn.

Tiếp đó là các ý kiến đóng góp của các Đ/c trong bộ môn để kết quả nghiên cứu của báo cáo chính được hoàn thiện hơn nữa:

– Tổng quan về thuế: Các tiêu chí để đánh giá một hệ thống quản lý thuế tốt; Các nhân tố tác động đến quản lý thuế; Cấu trúc thuế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. ( Đ/c Nguyễn Hồng Nhung )

– Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế: Hệ thống bộ máy quản lý thuế; Thực trạng cơ sở pháp lý cho quản lý thuế; Thực trạng nội dung quản lý thuế ( Đ/c  Đặng Công Thức )

Đánh giá thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập ( những kết quả và hạn chế, nguyên nhân của hạn chế). Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế ở Việt Nam. ( Đ/c Mai Nguyễn Phương Dung ).

Sau hơn 4h trao đổi sôi nổi, Đ/c Đặng Công Thức đã tổng kết lại các kết quả đạt được của buổi sinh hoạt chuyên môn. Đồng thời Đ/c cũng khích lệ toàn bộ giảng viên trong bộ môn luôn phát huy trí sáng tạo để nâng cao nghiệp vụ và chúc các buổi sinh hoạt chuyên môn kế tiếp thành công tốt đẹp.

Đỗ Thị Thu Hiền

Tập thể cán bộ, giảng viên khoa Kinh tế năm học 2014 – 2015

Không kì thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS

 

Trong nhiều năm qua, mỗi khi nhắc đến AIDS, người ta đều liên tưởng đến đó là một căn bệnh thế kỉ, một căn bệnh cực kì nguy hiểm mà khi mắc phải thì chỉ có một con đường chết. Xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của người dân cũng càng được nâng cao hơn, vì vậy trách nhiệm và sự quan tâm, giúp đỡ của mỗi người đối với đại dịch HIV/AIDS và những cá nhân không may mắn mắc phải nó là một điều hết sức cần thiết. Chính vì thế, nhân ngày Thế giới phòng chống AIDS, 1/12/2003, Cô-phi-An-nan, người da màu đầu tiên làm Tổng thư kí Liên hợp quốc hai nhiệm kì và đoạt giải Nobel Hòa Bình đã ra một bản thông điệp gửi nhân dân thế giới, trong đó có lời kêu gọi nổi tiếng: “ Trong thế giới khốc liệt của AIDS , không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”. Vậy ông muốn nhắn nhủ điều gì với nhân loại, đặc biệt là tuổi trẻ, những chủ nhân của tương lai đất nước thông qua lời kêu gọi đó?

Trước hết, chúng ta hiểu gì về AIDS ? Thực ra nó là cụm từ viết tắt của tiếng Anh, là một hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ( còn gọi là bệnh liệt kháng hoặc SIDA), làm tê liệt sức đề kháng của con người. Như vậy, ‘ trong thế giới khốc liệt của AIDS” chính là một thế giới mà khi ta đã bước vào thì rất khó có thể thoát ra được bởi lẽ một khi đã bị nhiễm AIDS thì người bệnh không sớm thì muộn chắc chắn chỉ còn một con đường chết. Đối với mỗi con người, những sai lầm mà ta vô tình vấp phải trong cuộc sống thì có thể còn cách khắc phục được nhưng khi sai lầm vướng vào HIV/AIDS thì chúng ta sẽ phải trả giá bằng cả tính mạng, cuộc đời và thậm chí là người thân của mình vì nó có sức lan truyền rất khủng khiếp, không chỉ bằng một con đường mà có tới cả ba: đường máu, đường tình dục và từ mẹ sang con. Nguy hiểm đến thế nhưng cho đến nay, AIDS vẫn nằm trong số những loại bệnh mà con người chưa tìm ra thứ thuốc chữa nào hữu hiệu. Chính vì lẽ đó, qua câu nói: “ Trong thế giới khốc liệt của AIDS , không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”, điều mà Cô-phi-An-nan quan tâm và muốn nhắn nhủ cho chúng ta chính là sự gắn bó, đoàn kết, cảm thông của xã hội với người bị bệnh, không tách biệt giữa ta và họ, đồng thời hành động để giúp đẩy lùi căn bệnh này. Nếu không hành động hoặc không lên tiếng tức là chúng ta đã vô tình giết chết nhân loại và cả chúng ta, đồng thời người bị nhiễm AIDS cũng không được che giấu căn bệnh của mình hoặc tự ti, mặc cảm, sống biệt lập với cộng đồng mà hãy cố gắng đứng lên, không buông xuôi mọi thứ, lạc quan, tin tưởng vào tương lai, dành thời gian còn lại để sống chan hòa, vui vẻ và giúp ích cho đời.

Chúng ta đã được sống trong những giây phút thực sự vui vẻ và hạnh phúc. Cũng không ít người trong chúng ta thầm tiếc nuối và ao ước những khoảnh khắc tuyệt vời ẫy mãi mãi đọng lại trước mắt chúng ta và mỗi chúng ta sẽ thấy cuộc sống này ý nghĩa và đáng quý biết bao. Thế nhưng, xung quanh ta còn có những người không có niềm tin vào cuộc sống hiện tại, không dám ước mơ cho tương lai và thậm chí không muốn tồn tại trên cõi đời này nữa vì có thể họ sinh ra trong một gia đình không có hạnh phúc hoặc những va chạm, vấp ngã trong cuộc đời đã làm họ mất đi ý chí, nghị lực, và thế là họ đánh mất chính mình, sống buông thả, dần dần bước vào con đường hút chích, nghiện ngập và cuối cùng vì một phút sai lầm, một phút nhẹ dạ mà họ đã phải mang trên mình căn bệnh thế kỉ, đến lúc này dù có hối hận thì cũng đã quá muộn. Những người nhiễm AIDS cũng có thể là những chiến sĩ công an dũng cảm đang thi hành nhiệm vụ bắt tội phạm nên vô tình đã bị chúng dùng kim tiêm đâm vào người, kết quả họ đã vướng vào căn bệnh này, để lại nỗi đau cho bản thân và cả gia đình của mình.

Trong bản thông điệp gửi nhân dân thế giới, Tổng thư kí Cô-phi-An-nan đã nói : “ …Nhưng cũng chính trong lúc này, dịch HIV/AIDS vẫn hoành hành, gây tỉ lệ tử vong cao trên thế giới và có rất ít dấu hiệu suy giảm. Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người nhiễm HIV”. HIV/AIDS có mặt khắp nơi trên thế giới , nó không bỏ qua hoặc chừa bất cứ một ai. Từ miền xuôi đến miền ngược, thành thị, nông thôn hay miền hải đảo xa xôi, đâu đâu cũng có, chúng luôn rình rập và sẵn sàng cướp đi cuộc sống của bất kì những ai chủ quan, thiếu hiểu biết. Từng giờ, từng phút, từng giây đồng hồ trôi qua, có biết bao con người đã bị cuốn vào vòng xoáy của AIDS. Tất cả những người bị nhiễm ngoài việc phải chống chọi với bệnh tật, sự ăn mòn đi thân xác thì họ lại càng đau khổ hơn nữa khi xung quanh họ luôn có một tấm lưới vô hình nhưng phủ đầy gai nhọn bao vây lấy họ. Tấm lưới này được dệt nên từ sự kì thị, sự phân biệt, sự khinh bỉ hay đơn giản chỉ là một câu nói bâng quơ, một cái nhìn khinh miệt, vô cảm hoặc một ánh mắt thờ ơ, xa lánh của chính mỗi chúng ta. Điều này thật đáng lên án trong xã hội và cần phải được loại bỏ ngay bởi vì có thể qua những hành động trên mà chúng ta đã vô tình làm tổn thương vào chính trái tim và tâm hồn của những người nhiễm HIV/AIDS, những con người tội nghiệp đang ở tận cùng đáy sâu của vực thẳm mà họ đang cố gắng thoát ra, thế nhưng họ không thể một mình tự thực hiện được điều đó mà người có thể kéo họ lên và giúp họ vượt qua mặc cảm, trở về với cộng đồng, sống hòa mình với xã hội không ai khác chính là chúng ta. Điều đáng buồn hơn, đối tượng bị kì thị ở đây còn là những đứa trẻ vô tội. Chúng không có tội tình gì khi mang trong mình căn bệnh thế kỉ bởi những người đã sinh thành ra chúng, thế nhưng những đứa trẻ đó đang bị chặn đường đến trường chỉ vì những suy nghĩ lệch lạc, phiến diện, những ác cảm của những con người thiếu hiểu biết. Trẻ em HIV được quyền tới trường, những hành vi trì trích, phản đối hay kỳ thị là không được phép. Người phạm luật hoàn toàn có thể bị xử phạt theo quy định của pháp luật. Ngoài ra thì các bé HIV trong điều kiện được phát triển hoà nhập và nhận thức đầy đủ, có thể hoàn toàn giáo dục các em biết tự bảo vệ mình và bảo vệ cho những người xung quanh – nó hoàn toàn có thể hiểu như một kỹ năng sống nhỏ bình thường. Về góc độ tầm nhìn và giải pháp của các nhà quản lý xã hội, HIV là căn bệnh có thể xảy ra với tất cả mọi người nếu thiếu hiểu biết. Nhiệm vụ đặt ra với các nhà quản lý và bảo vệ XH là hạn chế tốt nhất những vấn đề của căn bệnh này, tránh ảnh hưởng nhiều nhất cho cộng đồng và xã hội. Chính vì thế, sự tuyên truyền cho người dân hiểu về cơ chế lây lan của bệnh cũng như yêu cầu công đồng cần có những biện pháp thực hiện góp phần cải thiện hệ luỵ nạn dịch này, trong đó có việc chống kỳ thị người nhiễm HIV không phải nguyên nhân bởi họ, mà trẻ em là một bộ phận.

Vì thế, trách nhiệm của mỗi người đối với đại dịch HIV/AIDS nói chung và với những người mắc phải căn bệnh này nói riêng là vô cùng quan trọng. Chúng ta hãy đặt mình vào vị trí của người nhiễm HIV/AIDS để thấy được họ cần điều gì ở chúng ta. Chúng ta đã nói rất nhiều về trách nhiệm, đã đề ra rất nhiều biện pháp, kế hoạch. Thế nhưng, nhìn lại chúng ta đã làm được bao nhiêu? Mỗi chúng ta phải ý thức được trách nhiệm của mình từ những cái nhỏ nhặt nhất. Công việc đấu tranh phòng, chống HIV/AIDS không của riêng một ai, một cơ quan tổ chức nào đó chính là trách nhiệm của cả cộng đồng, của chính chúng ta bởi vì cuộc sống là của tất cả mọi người. Điển hình như Nhà nước nên có các chính sách đầu tư tiền bạc để mua thuốc chữa bệnh, phòng bệnh. Xã hội cũng nên lập những mái ấm tình thương , những làng SOS… để giúp đỡ những người bị nhiễm HIV. Trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng nên xuất hiện nhiều thông tin về căn bệnh này để phổ biến cho tất cả người dân khắp nơi trên mọi miền đất nước hiểu về tác hại của nó và cách phòng chống.

Đối với thế hệ thanh niên, học sinh thì trách nhiệm này lại càng nặng nề và lớn lao hơn. Bởi lẽ chúng ta chính là chủ nhân tương lai của đất nước, những con người năng động, sáng tạo, có những điều kiện học tập, rèn luyện tốt nhất. Rất nhiều bạn trẻ đã ao ước sẽ tìm ra loại thuốc điều trị căn bệnh HIV/AIDS . Để điều đó thành hiện thực, mỗi chúng ta cần phải nỗ lực phấn đấu hết mình để học tập tốt hơn nữa, phải tìm hiểu, tự nâng cao nhận thức của mình về căn bệnh HIV/AIDS để có biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn sự lây lan của nó. Đặc biệt, mỗi chúng ta hãy trở thành những tuyên truyền viên xuất sắc, mang những kiến thức cần thiết về HIV/AIDS đến cho tất cả mọi người. Hãy tham gia tích cực vào các hoạt động thiết thực như các cuộc thi, các buổi tham gia cổ động, các phong trào tình nguyện giúp đỡ những người bị nhiễm HIV/AIDS. Đồng thời, một nhiệm vụ quan trọng nhất đó là xé tan đi tấm lưới vô hình đang vây lấy những người bị nhiễm HIV/AIDS bằng cách phát huy truyền thống tương thân, tương ái, chăm sóc giúp đỡ và chống kì thị, phân biệt đối xử với họ, bớt đi một ánh mắt vô cảm là giúp cho những người nhiễm HIV/AIDS không còn lo sợ, bớt đi một cái nhìn thờ ơ là tiếp thêm sức mạnh cho họ chống lại bệnh tật, một cái bắt tay thân thiện sẽ cho họ những nụ cười để vững tin hơn vào cuộc sống, chúng ta hãy mở rộng trái tim đồng cảm, hãy cùng nắm tay, sát cánh bên nhau để giúp đỡ những người nhiễm HIV/AIDS. Hãy là những người tiên phong trong công tác phòng, chống HIV/AIDS, hãy cùng đồng thanh hô to khẩu hiệu : “ Giữ vững cam kết, quyết tâm ngăn chặn AIDS”. Chính những ươc mơ, hoài bão , ý chí , những nụ cười rạng rỡ và con tim tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ chúng ta sẽ đẩy lùi được đại dịch HIV/AIDS.

Lời kêu gọi của Cô-phi-an-nan thật đúng đắn và có sức thuyết phục cao, nó như một hồi chuông cảnh tỉnh mọi người hãy cùng nhau đẩy lùi căn bệnh thế kỉ, hãy yêu thương , quan tâm và đối xử với những người bị nhiễm HIV/AIDS như họ chưa từng mắc bệnh. Tôi và các bạn, chúng ta hãy cùng chung tay, cùng hành động ngay chính lúc này vì Trái Đất thân yêu, cuộc sống thân yêu này của chúng ta, làm cho mảnh đất mà ta đang ở luôn luôn ngập tràn tình người.

Lê Phương Hảo

Lời kêu gọi của Kofi Anna: “Hãy cùng tôi đánh đổ thành lũy của sự im lặng, kỳ thị và phân biệt đối xử dịch bệnh này”.                                         

Trải qua hơn hai thập kỷ tồn tại, cho dù ý thức trước dịch bệnh HIV/AIDS trong người dân đã được cải thiện ở các nước kém phát triển lẫn các nước tiên tiến thế nhưng vẫn còn đó sự xa rời, khó chịu đối với những người mắc phải. Vì thế, lời kêu gọi “hãy cùng tôi đánh đổ thành lũy của sự im lặng, kỳ thị và phân biệt đối xử dịch bệnh này” của Kofi Anna đã thúc đẩy một ý chí mạnh mẽ hơn để cùng đoàn kết và đương đầu với căn bệnh thế kỷ này.

Trong câu nói trên, “thành lũy của  sự im lặng, kỳ thị và phân biệt đối xử” chính là thái độ xa lánh đã ăn sâu vào nếp nghĩ của  rất nhiều người, những ánh mắt, vẻ mặt ghét bỏ thậm chí là những hành động xua đuổi với những bệnh nhân HIV/AIDS. Chính vì sự phân biệt đối xử nặng nề tưởng chừng như không thể lay chuyển này, hành động “đánh đổ” tức là loại bỏ sự xua đuổi, ghét bỏ và nâng cao ý thức một cách tích cực chính là việc làm bức thiết nhất. Thế nhưng, cuộc chiến không khoan nhượng này chỉ có thể thành công bởi sự nỗ lực của rất nhiều người, sự hợp tác hết mình này mới có thể tạo ra sự thay đổi bước ngoặt. Vì vậy, lời kêu gọi của Kofi Anna đã thể hiện đầy đủ sự quyết tâm tới cùng để chống lại sự phân biệt đối xử đang dần dần biến căn bệnh này thêm nguy hiểm.

Bởi ý thức  trước dịch bệnh này là yếu tố tiên quyết đề đẩy lùi nó nên càng nguy hại hơn khi một xã hội kỳ thị không nhận ra tác hại của việc im lặng và kỳ thị với những người mắc. Trước hết, đối với bản thân người mắc, càng bị xa lánh họ càng ý thức kém hơn về việc lây lan cho người khác, cùng với đó, không có sự giao tiếp, sẻ chia, họ càng thêm hủy hoại bản thân và căm thù người khác, dù rằng tình trạng của họ có thể tích cực hơn và có thể đóng góp cho công việc như những người bình thường. Bao quát hơn, đối với cộng đồng, việc phân biệt đối xử càng làm gia tăng thêm những tệ nạn xã hội, làm căng thẳng hơn mối quan hệ giữa người với người, và  nghiêm trọng hơn, để lại một sự kỳ thị còn nặng nề hơn cho thế hệ tiếp nối. Vì thế, việc đấu tranh với sự kỳ thị này không chỉ có ích với cá nhân mà còn với tập thể, không chỉ tác dụng lên con người của ngày hôm nay mà còn trong tương lai.

Hậu quả những hành vi cụ thể và phân biệt đối xử với những người nhiễm HIV. Những người nhiễm HIV họ bị mọi người xa lánh, ruồng bỏ, họ bị tổn thương về tinh thần và thể xác, vì họ không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ tư vấn, chăm sóc và điều trị để bảo vệ. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm tăng nguy cơ lây nhiễm ra cộng đồng ngày càng nhiều lây nhiễm  HIV. Theo tôi cần phải có các biện pháp  để chống phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AID như sau:

Đề xuất các biện pháp để chống phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS.

– Chuyển từ truyền thông hù dọa sang truyền thông giải thích dựa trên các cơ sở khoa học và thực tiễn.

– Chuyển từ việc nhấn mạnh vào con đường lây nhiễm sang nhấn mạnh hơn con đường không lây.

– Chuyển từ việc coi người nhiễm HIV/AIDS và gia đình họ là đối tượng sang coi họ là chủ thể của truyền thông.

– Chuyển từ đưa tin, hình ảnh tiêu cực về người nhiễm HIV sang đưa tin, hình ảnh tích cực về họ, cải thiện hình ảnh, tiến tới bình thường hóa sự có mặt của người nhiễm HIV trong cộng đồng.

– Với tư duy đổi mới, nội dung, thông điệp truyền thông sẽ tập trung giải thích để mọi người hiểu về khả năng lây truyền của HIV, nhất là làm rõ rằng HIV không lây truyền qua các tiếp xúc thông thường.

– Giải thích về các tác hại của kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS và gia đình họ, trong đó nhấn mạnh các tác hại đối với cộng đồng, với sự phát triển kinh tế, xã hội và làm cho dịch HIV lây lan nhanh hơn.

– Tránh các từ ngữ, lời nói, hình ảnh, v.v… có tính hù dọa, gây hoảng sợ trong dân chúng.

– Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật về HIV/AIDS, nhất là các quy định về chống kỳ thị, phân biệt đối xử.

– Rà soát, kiên quyết thay thế các thông điệp, hình ảnh, nhất là các pano, áp phích có nội dung hù dọa hoặc gây nhầm lẫn HIV/AIDS với tệ nạn xã hội.

– Biên soạn lại các tài liệu, ấn phẩm truyền thông theo hướng loại bỏ các nội dung có thể dẫn đến tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử.

– Đa dạng hóa các phương pháp truyền thông.

– Lồng ghép nội dung chống kỳ thị, phân biệt đối xử vào tất cả các hoạt động truyền thông về HIV/AIDS.

– Tổ chức nhiều hoạt động truyền thông với sự tham gia của người nhiễm HIV đồng thời tạo điều kiện để các nhóm người nhiễm HIV/AIDS tổ chức các hoạt động truyền thông trong cộng đồng, trong trường học, tại nơi làm việc và tuyên truyền, quảng bá rộng rãi về các hoạt động này.

– Tăng cường đưa tin, quảng bá các hoạt động tích cực của người nhiễm HIV/AIDS, sự đóng góp của họ đối với cộng đồng và gia đình.

– Huy động sự tham gia ngày càng nhiều của các nhà lãnh đạo, các vị chức sắc và những người có uy tín, những người nổi tiếng được quần chúng mến mộ vào các hoạt động truyền thông, kết hợp với sự thăm hỏi, động viên người nhiễm HIV/AIDS.

– Chỉ ra những việc làm, những hành vi an toàn khi tiếp xúc với người nhiễm bệnh, truyền thông tích cực sẽ nâng cao nhận thức của cộng đồng về HIV/AIDS.

Mà nguyên nhân dẫn đến sự kỳ thị này có thể chia thành hai hướng khác biệt là sự phân biệt đối xử của những con người không có ý thức với bệnh và những con người có giáo dục đầy đủ về HIV/AIDS nhưng không hợp tác phòng chống bệnh bởi sự ích kỷ của bản thân. Với trường hợp thứ nhất, cách đối xử của họ chịu sự ảnh hưởng của định kiến xã hội nặng nề, tuy nhiên, lại dễ dàng định hình lại ý thức để hiểu rõ hơn về bệnh và cởi mở hơn với người mắc. Tuy nhiên, đối phó với sự ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân thì cần có một chặng đường dài và rõ ràng hơn để họ học được sự chia sẻ, cảm thông với sự tủi thân, lẻ loi của người mắc đồng thời có thể tạo nên tác động về giáo dục mạnh mẽ hơn về phòng chống bệnh. Lấy ví dụ về việc áp dụng các biện pháp phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam, do chịu ảnh hưởng của văn hóa, người Việt rất ngại và khó chịu khi nhắc đến những vấn đề nhạy cảm này, cùng với ý thức kém và quan niệm nặng nề về những bệnh xã hội, công tác phòng chống việc kỳ thị và phân biệt đối xử với dịch bệnh này cần phải kết hợp nhiều yếu tố kể trên.

Để giải quyết tình trạng phân biệt này, đối với trường hợp người dân thiếu ý thức thì cần giáo dục ý thức đầy đủ, tuyên truyền những kiến thức cần thiết một cách ngắn gọn, dễ hiểu, để họ dễ dàng tiếp thu và áp dụng. Còn đối với những người chỉ muốn chăm chăm bảo vệ lợi ích của bản thân, cần tổ chức những chương trình thăm viếng, phỏng vấn về cuộc sống của người mắc để họ có thể tiếp cận để hiểu hơn cuộc sống của những con người khó khăn, dễ bị tổn thương trong xã hội này, thế nên, biện pháp này cần nhiều thời gian mới có thể thực hiện thành công được. Nhưng hơn hết, về lâu dài, các chính sách đối với các đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS ở các nước cần có sự đầu tư cụ thể và khoa học hơn từ khâu phát hiện, điều trị cho người nhiễm đến các chương trình tái hòa nhập cộng đồng cho người nhiễm, người nhiễm tự giúp đỡ nhau và tuyên truyền cách phòng chống cho cộng đồng. Đối với bản thân học sinh, những việc làm trong tầm tay là tự gầy dựng ý thức cho bản thân và kêu gọi những người xung quanh cởi mở hơn với những người mắc bệnh. Như thế, việc phòng chống HIV/AIDS cần phải xuất phát từ những việc nhỏ đến những việc làm bao quát hơn.

Thực tế, gần đây đã có một người trên thế giới đã được chữa trị khỏi căn bệnh thế kỷ này, điều này sẽ không thể xảy ra nếu không có sự đồng lòng hợp tác điều trị, không có bất kỳ kỳ thị hay phân biệt nào. Vì thế, lời kếu gọi của Kofi Anna rất có giá trị trong việc nâng cao ý thức đối với HIVAIDS trong hiện tại và tương lai.

(Nguyễn Thị Thu Hiên – Sưu tầm)