Chuyên mục chính

Bộ môn Kinh tế tổ chức thành công sinh hoạt chuyên môn tháng 11 – Lần 2

Ngày 6/11/2014 tại Văn phòng Trung tâm Đào tạo và Dịch vụ Kinh tế, Bộ môn Kinh tế đã tổ chức buổi sinh hoạt chuyên môn với 3 nội dung lớn: Đóng góp cho các bài báo gửi đăng trên Thông tin Khoa học và công nghệ  số 2 năm 2014; thông qua kết quả kiểm tra Giáo án; Kế hoạch thi giáo viên dạy giỏi bộ môn Kinh tế năm học 2014 – 2015.

Dưới sự chủ trì của đồng chí Đặng Công Thức, Bộ môn đã tiến hành họp đóng góp ý kiến cho 8 bài báo của các đồng chí trong Bộ môn sẽ gửi đăng trên Thông tin Khoa học và công nghệ  số 2 năm 2014. Kết quả sau 3 tiếng làm việc nghiêm túc, 8 bài báo của các tác giả đã được các đồng chí trong Bộ môn đóng góp ý kiến về mặt nội dung và hình thức để có hướng chỉnh sửa bài báo của mình một cách tốt nhất với các nội dung được đề nghị chỉnh sửa như sau: Tên bài báo, phạm vi nghiên cứu, bổ sung số liệu cần thiết, …

WP_20141106_008

Nội dung thứ hai, Đồng chí Đặng Công Thức đã thông qua kết quả kiểm tra Giáo án của các đồng chí trong Bộ môn với kết quả 3/19 giáo án chưa đạt yêu cầu. 3 giáo án trên đã nhận được đóng góp ý kiến của người kiểm tra với các nội dung cần chỉnh sửa như sau: Bổ sung tài liệu tham khảo cho mỗi chương; Phân bổ thời gian cụ thể cho từng chương; Cập nhật các nội dung mới.

Cuối cùng, Bộ môn đã họp bàn kế hoạch tổ chức cuộc thi Giáo viên dạy giỏi Bộ môn Kinh tế năm học 2014 – 2015 với nội dung cơ bản như sau: thống nhất thời gian tổ chức, cách thức tổ chức cuộc thi; giao cho đồng chí Đặng Huyền Trang và đồng chí Mai Nguyễn Phương Dung xây dựng Kế hoạch chi tiết tổ chức cuộc thi.

Lò Thị Huyền Trang

Bộ môn Kinh tế tổ chức thành công sinh hoạt chuyên đề tháng 11 – Lần 2

Ngày 13/11/2014, tại văn phòng khoa, bộ môn Kinh tế đã tổ chức buổi sinh hoạt chuyên môn với chủ đề: “ Quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ” do Đ/c Lò Thị Huyền Trang báo cáo chính.

Mở đầu buổi sinh hoạt, đ/c Đặng Công Thức – Trưởng bộ môn Kinh tế giới thiệu sơ bộ về nội dung buổi sinh hoạt. Tiếp đó Đ/c Lò Thị Huyền Trang trình bày nội dung phần nghiên cứu về tổng quan lý luận về thuế ( thuế và các chỉ tiêu đánh giá một hệ thống thuế tốt ) và tập trung sâu vào phần Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đ/c nhấn mạnh: hiện nay tại Việt Nam đã tăng tỷ trọng nguồn thu từ thuế tiêu dùng và thuế trực thu, tuy nhiên nguồn thu từ thuế đánh vào thương mại quốc tế lại có xu hướng giảm mà nguyên nhân chính là xuất phát từ các khâu: đăng ký thuế, kê khai và nộp thuế, xử lý hoàn thuế, xử lý thu nợ, kiểm tra và thanh tra người nộp thuế.

10718222_540345786096801_1079572669_o

Sau khi báo cáo chính trình bày các kết quả nghiên cứu đã diễn ra sự trao đổi sôi nổi giữa các thành viên trong bộ môn xoay quanh thực trạng và giải pháp nhằm hoàn chỉnh hệ thống thuế hiệu quả nhất tại Việt Nam.

Phần chia sẻ của Đ/c Phan Nam Giang bao gồm nội dung chính sau:

– Nếu báo cáo chính phân tích được sâu sắc, rõ ràng sự khác biệt của hệ thống thuế tại Việt Nam trong giai đoạn trước khi hội nhập và sau khi hội nhập kinh tế quốc tế sẽ thấy được tổng thể bức tranh về hệ thống thuế và các “điểm khuyết” cần xoáy sâu.

– Số liệu khá đa dạng và phong phú nhưng cần cập nhật thêm nhiều số liệu mới để kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục hơn.

Tiếp đó là các ý kiến đóng góp của các Đ/c trong bộ môn để kết quả nghiên cứu của báo cáo chính được hoàn thiện hơn nữa:

– Tổng quan về thuế: Các tiêu chí để đánh giá một hệ thống quản lý thuế tốt; Các nhân tố tác động đến quản lý thuế; Cấu trúc thuế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. ( Đ/c Nguyễn Hồng Nhung )

– Thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế: Hệ thống bộ máy quản lý thuế; Thực trạng cơ sở pháp lý cho quản lý thuế; Thực trạng nội dung quản lý thuế ( Đ/c  Đặng Công Thức )

Đánh giá thực trạng quản lý thuế ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập ( những kết quả và hạn chế, nguyên nhân của hạn chế). Giải pháp hoàn thiện quản lý thuế ở Việt Nam. ( Đ/c Mai Nguyễn Phương Dung ).

Sau hơn 4h trao đổi sôi nổi, Đ/c Đặng Công Thức đã tổng kết lại các kết quả đạt được của buổi sinh hoạt chuyên môn. Đồng thời Đ/c cũng khích lệ toàn bộ giảng viên trong bộ môn luôn phát huy trí sáng tạo để nâng cao nghiệp vụ và chúc các buổi sinh hoạt chuyên môn kế tiếp thành công tốt đẹp.

Đỗ Thị Thu Hiền

Tập thể cán bộ, giảng viên khoa Kinh tế năm học 2014 – 2015

Không kì thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS

 

Trong nhiều năm qua, mỗi khi nhắc đến AIDS, người ta đều liên tưởng đến đó là một căn bệnh thế kỉ, một căn bệnh cực kì nguy hiểm mà khi mắc phải thì chỉ có một con đường chết. Xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của người dân cũng càng được nâng cao hơn, vì vậy trách nhiệm và sự quan tâm, giúp đỡ của mỗi người đối với đại dịch HIV/AIDS và những cá nhân không may mắn mắc phải nó là một điều hết sức cần thiết. Chính vì thế, nhân ngày Thế giới phòng chống AIDS, 1/12/2003, Cô-phi-An-nan, người da màu đầu tiên làm Tổng thư kí Liên hợp quốc hai nhiệm kì và đoạt giải Nobel Hòa Bình đã ra một bản thông điệp gửi nhân dân thế giới, trong đó có lời kêu gọi nổi tiếng: “ Trong thế giới khốc liệt của AIDS , không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”. Vậy ông muốn nhắn nhủ điều gì với nhân loại, đặc biệt là tuổi trẻ, những chủ nhân của tương lai đất nước thông qua lời kêu gọi đó?

Trước hết, chúng ta hiểu gì về AIDS ? Thực ra nó là cụm từ viết tắt của tiếng Anh, là một hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ( còn gọi là bệnh liệt kháng hoặc SIDA), làm tê liệt sức đề kháng của con người. Như vậy, ‘ trong thế giới khốc liệt của AIDS” chính là một thế giới mà khi ta đã bước vào thì rất khó có thể thoát ra được bởi lẽ một khi đã bị nhiễm AIDS thì người bệnh không sớm thì muộn chắc chắn chỉ còn một con đường chết. Đối với mỗi con người, những sai lầm mà ta vô tình vấp phải trong cuộc sống thì có thể còn cách khắc phục được nhưng khi sai lầm vướng vào HIV/AIDS thì chúng ta sẽ phải trả giá bằng cả tính mạng, cuộc đời và thậm chí là người thân của mình vì nó có sức lan truyền rất khủng khiếp, không chỉ bằng một con đường mà có tới cả ba: đường máu, đường tình dục và từ mẹ sang con. Nguy hiểm đến thế nhưng cho đến nay, AIDS vẫn nằm trong số những loại bệnh mà con người chưa tìm ra thứ thuốc chữa nào hữu hiệu. Chính vì lẽ đó, qua câu nói: “ Trong thế giới khốc liệt của AIDS , không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”, điều mà Cô-phi-An-nan quan tâm và muốn nhắn nhủ cho chúng ta chính là sự gắn bó, đoàn kết, cảm thông của xã hội với người bị bệnh, không tách biệt giữa ta và họ, đồng thời hành động để giúp đẩy lùi căn bệnh này. Nếu không hành động hoặc không lên tiếng tức là chúng ta đã vô tình giết chết nhân loại và cả chúng ta, đồng thời người bị nhiễm AIDS cũng không được che giấu căn bệnh của mình hoặc tự ti, mặc cảm, sống biệt lập với cộng đồng mà hãy cố gắng đứng lên, không buông xuôi mọi thứ, lạc quan, tin tưởng vào tương lai, dành thời gian còn lại để sống chan hòa, vui vẻ và giúp ích cho đời.

Chúng ta đã được sống trong những giây phút thực sự vui vẻ và hạnh phúc. Cũng không ít người trong chúng ta thầm tiếc nuối và ao ước những khoảnh khắc tuyệt vời ẫy mãi mãi đọng lại trước mắt chúng ta và mỗi chúng ta sẽ thấy cuộc sống này ý nghĩa và đáng quý biết bao. Thế nhưng, xung quanh ta còn có những người không có niềm tin vào cuộc sống hiện tại, không dám ước mơ cho tương lai và thậm chí không muốn tồn tại trên cõi đời này nữa vì có thể họ sinh ra trong một gia đình không có hạnh phúc hoặc những va chạm, vấp ngã trong cuộc đời đã làm họ mất đi ý chí, nghị lực, và thế là họ đánh mất chính mình, sống buông thả, dần dần bước vào con đường hút chích, nghiện ngập và cuối cùng vì một phút sai lầm, một phút nhẹ dạ mà họ đã phải mang trên mình căn bệnh thế kỉ, đến lúc này dù có hối hận thì cũng đã quá muộn. Những người nhiễm AIDS cũng có thể là những chiến sĩ công an dũng cảm đang thi hành nhiệm vụ bắt tội phạm nên vô tình đã bị chúng dùng kim tiêm đâm vào người, kết quả họ đã vướng vào căn bệnh này, để lại nỗi đau cho bản thân và cả gia đình của mình.

Trong bản thông điệp gửi nhân dân thế giới, Tổng thư kí Cô-phi-An-nan đã nói : “ …Nhưng cũng chính trong lúc này, dịch HIV/AIDS vẫn hoành hành, gây tỉ lệ tử vong cao trên thế giới và có rất ít dấu hiệu suy giảm. Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người nhiễm HIV”. HIV/AIDS có mặt khắp nơi trên thế giới , nó không bỏ qua hoặc chừa bất cứ một ai. Từ miền xuôi đến miền ngược, thành thị, nông thôn hay miền hải đảo xa xôi, đâu đâu cũng có, chúng luôn rình rập và sẵn sàng cướp đi cuộc sống của bất kì những ai chủ quan, thiếu hiểu biết. Từng giờ, từng phút, từng giây đồng hồ trôi qua, có biết bao con người đã bị cuốn vào vòng xoáy của AIDS. Tất cả những người bị nhiễm ngoài việc phải chống chọi với bệnh tật, sự ăn mòn đi thân xác thì họ lại càng đau khổ hơn nữa khi xung quanh họ luôn có một tấm lưới vô hình nhưng phủ đầy gai nhọn bao vây lấy họ. Tấm lưới này được dệt nên từ sự kì thị, sự phân biệt, sự khinh bỉ hay đơn giản chỉ là một câu nói bâng quơ, một cái nhìn khinh miệt, vô cảm hoặc một ánh mắt thờ ơ, xa lánh của chính mỗi chúng ta. Điều này thật đáng lên án trong xã hội và cần phải được loại bỏ ngay bởi vì có thể qua những hành động trên mà chúng ta đã vô tình làm tổn thương vào chính trái tim và tâm hồn của những người nhiễm HIV/AIDS, những con người tội nghiệp đang ở tận cùng đáy sâu của vực thẳm mà họ đang cố gắng thoát ra, thế nhưng họ không thể một mình tự thực hiện được điều đó mà người có thể kéo họ lên và giúp họ vượt qua mặc cảm, trở về với cộng đồng, sống hòa mình với xã hội không ai khác chính là chúng ta. Điều đáng buồn hơn, đối tượng bị kì thị ở đây còn là những đứa trẻ vô tội. Chúng không có tội tình gì khi mang trong mình căn bệnh thế kỉ bởi những người đã sinh thành ra chúng, thế nhưng những đứa trẻ đó đang bị chặn đường đến trường chỉ vì những suy nghĩ lệch lạc, phiến diện, những ác cảm của những con người thiếu hiểu biết. Trẻ em HIV được quyền tới trường, những hành vi trì trích, phản đối hay kỳ thị là không được phép. Người phạm luật hoàn toàn có thể bị xử phạt theo quy định của pháp luật. Ngoài ra thì các bé HIV trong điều kiện được phát triển hoà nhập và nhận thức đầy đủ, có thể hoàn toàn giáo dục các em biết tự bảo vệ mình và bảo vệ cho những người xung quanh – nó hoàn toàn có thể hiểu như một kỹ năng sống nhỏ bình thường. Về góc độ tầm nhìn và giải pháp của các nhà quản lý xã hội, HIV là căn bệnh có thể xảy ra với tất cả mọi người nếu thiếu hiểu biết. Nhiệm vụ đặt ra với các nhà quản lý và bảo vệ XH là hạn chế tốt nhất những vấn đề của căn bệnh này, tránh ảnh hưởng nhiều nhất cho cộng đồng và xã hội. Chính vì thế, sự tuyên truyền cho người dân hiểu về cơ chế lây lan của bệnh cũng như yêu cầu công đồng cần có những biện pháp thực hiện góp phần cải thiện hệ luỵ nạn dịch này, trong đó có việc chống kỳ thị người nhiễm HIV không phải nguyên nhân bởi họ, mà trẻ em là một bộ phận.

Vì thế, trách nhiệm của mỗi người đối với đại dịch HIV/AIDS nói chung và với những người mắc phải căn bệnh này nói riêng là vô cùng quan trọng. Chúng ta hãy đặt mình vào vị trí của người nhiễm HIV/AIDS để thấy được họ cần điều gì ở chúng ta. Chúng ta đã nói rất nhiều về trách nhiệm, đã đề ra rất nhiều biện pháp, kế hoạch. Thế nhưng, nhìn lại chúng ta đã làm được bao nhiêu? Mỗi chúng ta phải ý thức được trách nhiệm của mình từ những cái nhỏ nhặt nhất. Công việc đấu tranh phòng, chống HIV/AIDS không của riêng một ai, một cơ quan tổ chức nào đó chính là trách nhiệm của cả cộng đồng, của chính chúng ta bởi vì cuộc sống là của tất cả mọi người. Điển hình như Nhà nước nên có các chính sách đầu tư tiền bạc để mua thuốc chữa bệnh, phòng bệnh. Xã hội cũng nên lập những mái ấm tình thương , những làng SOS… để giúp đỡ những người bị nhiễm HIV. Trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng nên xuất hiện nhiều thông tin về căn bệnh này để phổ biến cho tất cả người dân khắp nơi trên mọi miền đất nước hiểu về tác hại của nó và cách phòng chống.

Đối với thế hệ thanh niên, học sinh thì trách nhiệm này lại càng nặng nề và lớn lao hơn. Bởi lẽ chúng ta chính là chủ nhân tương lai của đất nước, những con người năng động, sáng tạo, có những điều kiện học tập, rèn luyện tốt nhất. Rất nhiều bạn trẻ đã ao ước sẽ tìm ra loại thuốc điều trị căn bệnh HIV/AIDS . Để điều đó thành hiện thực, mỗi chúng ta cần phải nỗ lực phấn đấu hết mình để học tập tốt hơn nữa, phải tìm hiểu, tự nâng cao nhận thức của mình về căn bệnh HIV/AIDS để có biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn sự lây lan của nó. Đặc biệt, mỗi chúng ta hãy trở thành những tuyên truyền viên xuất sắc, mang những kiến thức cần thiết về HIV/AIDS đến cho tất cả mọi người. Hãy tham gia tích cực vào các hoạt động thiết thực như các cuộc thi, các buổi tham gia cổ động, các phong trào tình nguyện giúp đỡ những người bị nhiễm HIV/AIDS. Đồng thời, một nhiệm vụ quan trọng nhất đó là xé tan đi tấm lưới vô hình đang vây lấy những người bị nhiễm HIV/AIDS bằng cách phát huy truyền thống tương thân, tương ái, chăm sóc giúp đỡ và chống kì thị, phân biệt đối xử với họ, bớt đi một ánh mắt vô cảm là giúp cho những người nhiễm HIV/AIDS không còn lo sợ, bớt đi một cái nhìn thờ ơ là tiếp thêm sức mạnh cho họ chống lại bệnh tật, một cái bắt tay thân thiện sẽ cho họ những nụ cười để vững tin hơn vào cuộc sống, chúng ta hãy mở rộng trái tim đồng cảm, hãy cùng nắm tay, sát cánh bên nhau để giúp đỡ những người nhiễm HIV/AIDS. Hãy là những người tiên phong trong công tác phòng, chống HIV/AIDS, hãy cùng đồng thanh hô to khẩu hiệu : “ Giữ vững cam kết, quyết tâm ngăn chặn AIDS”. Chính những ươc mơ, hoài bão , ý chí , những nụ cười rạng rỡ và con tim tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ chúng ta sẽ đẩy lùi được đại dịch HIV/AIDS.

Lời kêu gọi của Cô-phi-an-nan thật đúng đắn và có sức thuyết phục cao, nó như một hồi chuông cảnh tỉnh mọi người hãy cùng nhau đẩy lùi căn bệnh thế kỉ, hãy yêu thương , quan tâm và đối xử với những người bị nhiễm HIV/AIDS như họ chưa từng mắc bệnh. Tôi và các bạn, chúng ta hãy cùng chung tay, cùng hành động ngay chính lúc này vì Trái Đất thân yêu, cuộc sống thân yêu này của chúng ta, làm cho mảnh đất mà ta đang ở luôn luôn ngập tràn tình người.

Lê Phương Hảo

Lời kêu gọi của Kofi Anna: “Hãy cùng tôi đánh đổ thành lũy của sự im lặng, kỳ thị và phân biệt đối xử dịch bệnh này”.                                         

Trải qua hơn hai thập kỷ tồn tại, cho dù ý thức trước dịch bệnh HIV/AIDS trong người dân đã được cải thiện ở các nước kém phát triển lẫn các nước tiên tiến thế nhưng vẫn còn đó sự xa rời, khó chịu đối với những người mắc phải. Vì thế, lời kêu gọi “hãy cùng tôi đánh đổ thành lũy của sự im lặng, kỳ thị và phân biệt đối xử dịch bệnh này” của Kofi Anna đã thúc đẩy một ý chí mạnh mẽ hơn để cùng đoàn kết và đương đầu với căn bệnh thế kỷ này.

Trong câu nói trên, “thành lũy của  sự im lặng, kỳ thị và phân biệt đối xử” chính là thái độ xa lánh đã ăn sâu vào nếp nghĩ của  rất nhiều người, những ánh mắt, vẻ mặt ghét bỏ thậm chí là những hành động xua đuổi với những bệnh nhân HIV/AIDS. Chính vì sự phân biệt đối xử nặng nề tưởng chừng như không thể lay chuyển này, hành động “đánh đổ” tức là loại bỏ sự xua đuổi, ghét bỏ và nâng cao ý thức một cách tích cực chính là việc làm bức thiết nhất. Thế nhưng, cuộc chiến không khoan nhượng này chỉ có thể thành công bởi sự nỗ lực của rất nhiều người, sự hợp tác hết mình này mới có thể tạo ra sự thay đổi bước ngoặt. Vì vậy, lời kêu gọi của Kofi Anna đã thể hiện đầy đủ sự quyết tâm tới cùng để chống lại sự phân biệt đối xử đang dần dần biến căn bệnh này thêm nguy hiểm.

Bởi ý thức  trước dịch bệnh này là yếu tố tiên quyết đề đẩy lùi nó nên càng nguy hại hơn khi một xã hội kỳ thị không nhận ra tác hại của việc im lặng và kỳ thị với những người mắc. Trước hết, đối với bản thân người mắc, càng bị xa lánh họ càng ý thức kém hơn về việc lây lan cho người khác, cùng với đó, không có sự giao tiếp, sẻ chia, họ càng thêm hủy hoại bản thân và căm thù người khác, dù rằng tình trạng của họ có thể tích cực hơn và có thể đóng góp cho công việc như những người bình thường. Bao quát hơn, đối với cộng đồng, việc phân biệt đối xử càng làm gia tăng thêm những tệ nạn xã hội, làm căng thẳng hơn mối quan hệ giữa người với người, và  nghiêm trọng hơn, để lại một sự kỳ thị còn nặng nề hơn cho thế hệ tiếp nối. Vì thế, việc đấu tranh với sự kỳ thị này không chỉ có ích với cá nhân mà còn với tập thể, không chỉ tác dụng lên con người của ngày hôm nay mà còn trong tương lai.

Hậu quả những hành vi cụ thể và phân biệt đối xử với những người nhiễm HIV. Những người nhiễm HIV họ bị mọi người xa lánh, ruồng bỏ, họ bị tổn thương về tinh thần và thể xác, vì họ không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ tư vấn, chăm sóc và điều trị để bảo vệ. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm tăng nguy cơ lây nhiễm ra cộng đồng ngày càng nhiều lây nhiễm  HIV. Theo tôi cần phải có các biện pháp  để chống phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AID như sau:

Đề xuất các biện pháp để chống phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS.

– Chuyển từ truyền thông hù dọa sang truyền thông giải thích dựa trên các cơ sở khoa học và thực tiễn.

– Chuyển từ việc nhấn mạnh vào con đường lây nhiễm sang nhấn mạnh hơn con đường không lây.

– Chuyển từ việc coi người nhiễm HIV/AIDS và gia đình họ là đối tượng sang coi họ là chủ thể của truyền thông.

– Chuyển từ đưa tin, hình ảnh tiêu cực về người nhiễm HIV sang đưa tin, hình ảnh tích cực về họ, cải thiện hình ảnh, tiến tới bình thường hóa sự có mặt của người nhiễm HIV trong cộng đồng.

– Với tư duy đổi mới, nội dung, thông điệp truyền thông sẽ tập trung giải thích để mọi người hiểu về khả năng lây truyền của HIV, nhất là làm rõ rằng HIV không lây truyền qua các tiếp xúc thông thường.

– Giải thích về các tác hại của kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS và gia đình họ, trong đó nhấn mạnh các tác hại đối với cộng đồng, với sự phát triển kinh tế, xã hội và làm cho dịch HIV lây lan nhanh hơn.

– Tránh các từ ngữ, lời nói, hình ảnh, v.v… có tính hù dọa, gây hoảng sợ trong dân chúng.

– Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật về HIV/AIDS, nhất là các quy định về chống kỳ thị, phân biệt đối xử.

– Rà soát, kiên quyết thay thế các thông điệp, hình ảnh, nhất là các pano, áp phích có nội dung hù dọa hoặc gây nhầm lẫn HIV/AIDS với tệ nạn xã hội.

– Biên soạn lại các tài liệu, ấn phẩm truyền thông theo hướng loại bỏ các nội dung có thể dẫn đến tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử.

– Đa dạng hóa các phương pháp truyền thông.

– Lồng ghép nội dung chống kỳ thị, phân biệt đối xử vào tất cả các hoạt động truyền thông về HIV/AIDS.

– Tổ chức nhiều hoạt động truyền thông với sự tham gia của người nhiễm HIV đồng thời tạo điều kiện để các nhóm người nhiễm HIV/AIDS tổ chức các hoạt động truyền thông trong cộng đồng, trong trường học, tại nơi làm việc và tuyên truyền, quảng bá rộng rãi về các hoạt động này.

– Tăng cường đưa tin, quảng bá các hoạt động tích cực của người nhiễm HIV/AIDS, sự đóng góp của họ đối với cộng đồng và gia đình.

– Huy động sự tham gia ngày càng nhiều của các nhà lãnh đạo, các vị chức sắc và những người có uy tín, những người nổi tiếng được quần chúng mến mộ vào các hoạt động truyền thông, kết hợp với sự thăm hỏi, động viên người nhiễm HIV/AIDS.

– Chỉ ra những việc làm, những hành vi an toàn khi tiếp xúc với người nhiễm bệnh, truyền thông tích cực sẽ nâng cao nhận thức của cộng đồng về HIV/AIDS.

Mà nguyên nhân dẫn đến sự kỳ thị này có thể chia thành hai hướng khác biệt là sự phân biệt đối xử của những con người không có ý thức với bệnh và những con người có giáo dục đầy đủ về HIV/AIDS nhưng không hợp tác phòng chống bệnh bởi sự ích kỷ của bản thân. Với trường hợp thứ nhất, cách đối xử của họ chịu sự ảnh hưởng của định kiến xã hội nặng nề, tuy nhiên, lại dễ dàng định hình lại ý thức để hiểu rõ hơn về bệnh và cởi mở hơn với người mắc. Tuy nhiên, đối phó với sự ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân thì cần có một chặng đường dài và rõ ràng hơn để họ học được sự chia sẻ, cảm thông với sự tủi thân, lẻ loi của người mắc đồng thời có thể tạo nên tác động về giáo dục mạnh mẽ hơn về phòng chống bệnh. Lấy ví dụ về việc áp dụng các biện pháp phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam, do chịu ảnh hưởng của văn hóa, người Việt rất ngại và khó chịu khi nhắc đến những vấn đề nhạy cảm này, cùng với ý thức kém và quan niệm nặng nề về những bệnh xã hội, công tác phòng chống việc kỳ thị và phân biệt đối xử với dịch bệnh này cần phải kết hợp nhiều yếu tố kể trên.

Để giải quyết tình trạng phân biệt này, đối với trường hợp người dân thiếu ý thức thì cần giáo dục ý thức đầy đủ, tuyên truyền những kiến thức cần thiết một cách ngắn gọn, dễ hiểu, để họ dễ dàng tiếp thu và áp dụng. Còn đối với những người chỉ muốn chăm chăm bảo vệ lợi ích của bản thân, cần tổ chức những chương trình thăm viếng, phỏng vấn về cuộc sống của người mắc để họ có thể tiếp cận để hiểu hơn cuộc sống của những con người khó khăn, dễ bị tổn thương trong xã hội này, thế nên, biện pháp này cần nhiều thời gian mới có thể thực hiện thành công được. Nhưng hơn hết, về lâu dài, các chính sách đối với các đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS ở các nước cần có sự đầu tư cụ thể và khoa học hơn từ khâu phát hiện, điều trị cho người nhiễm đến các chương trình tái hòa nhập cộng đồng cho người nhiễm, người nhiễm tự giúp đỡ nhau và tuyên truyền cách phòng chống cho cộng đồng. Đối với bản thân học sinh, những việc làm trong tầm tay là tự gầy dựng ý thức cho bản thân và kêu gọi những người xung quanh cởi mở hơn với những người mắc bệnh. Như thế, việc phòng chống HIV/AIDS cần phải xuất phát từ những việc nhỏ đến những việc làm bao quát hơn.

Thực tế, gần đây đã có một người trên thế giới đã được chữa trị khỏi căn bệnh thế kỷ này, điều này sẽ không thể xảy ra nếu không có sự đồng lòng hợp tác điều trị, không có bất kỳ kỳ thị hay phân biệt nào. Vì thế, lời kếu gọi của Kofi Anna rất có giá trị trong việc nâng cao ý thức đối với HIVAIDS trong hiện tại và tương lai.

(Nguyễn Thị Thu Hiên – Sưu tầm)

                                         

Kỳ thị và phân biệt đối xử đang là rào cản đối với hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.

HIV/AIDS là mối hiểm họa đối với tính mạng con người, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước. Thời gian qua, nhiều hoạt động phòng, chống HIV/AIDS đã được triển khai thực hiện, song hiện nay vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV lại đang là rào cản chính đối với các hoạt động dự phòng, chăm sóc cũng như tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người nhiễm HIV/AIDS.

Qua các số liệu của nghiên cứu về chỉ số đánh giá mức độ kỳ thị với người nhiễm HIV ở Việt Nam do Mạng lưới người sống với HIV Việt Nam thực hiện cho thấy, người nhiễm HIV đang phải đối mặt với sự kỳ thị và phân biệt đối xử và đây không chỉ là thách thức đối với riêng người nhiễm HIV, khi dịch HIV/AIDS đang ở giai đoạn tập trung, chủ yếu lây truyền ở nhóm tiêm chích ma túy, nam tình dục đồng giới và phụ nữ mại dâm.

Do bị kỳ thị và phân biệt đối xử tại nơi làm việc, những người nhiễm HIV bị rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc buộc phải thay đổi công việc thường xuyên, phải thay đổi nơi ở hoặc không thuê được nhà ở, phải vật lộn để bảo đảm kế sinh nhai cho bản thân. Nghiên cứu của Mạng lưới người sống với HIV Việt Nam cũng cho thấy, có khoảng 3% người nhiễm HIV và 4% trẻ em là con của người nhiễm HIV đã bị từ chối không được đi học. Ngoài ra, sự kỳ thị và phân biệt đối xử còn xảy ra ở các cơ sở phi chính quy, ở gia đình, cộng đồng, bạn bè và hàng xóm, như bị vợ, chồng bỏ rơi hoặc người thân trong gia đình ruồng rẫy, bị cộng đồng xã hội tẩy chay, mất công ăn việc làm và tài sản; bị đuổi học, bị từ chối khám sức khỏe tại các cơ sở y tế, thiếu sự chăm sóc và hỗ trợ, thậm chí bị bạo hành. Chưa kể đến việc phải đối mặt với nguy cơ bị kỳ thị và phân biệt đối xử, hoặc sợ bị kỳ thị và phân biệt đối xử có thể dẫn tới hậu quả là số lượng người đi xét nghiệm tự nguyện ít đi, ít bộc lộ tình trạng nhiễm HIV của mình với người khác, ít thực hiện những hành vi bảo vệ và tiếp cận các dịch vụ điều trị, chăm sóc, hỗ trợ.

Với các hình thức kỳ thị phổ biến như xì xào, bàn tán, xúc phạm, nhục mạ, thậm chí bị bạo hành về thân thể. Do vậy mà người nhiễm HIV đã cố tình che giấu không tiết lộ tình trạng nhiễm HIV của mình ra ngoài phạm vi gia đình, đặc biệt có tỷ lệ đáng kể người nhiễm HIV không cho chồng, vợ hoặc bạn tình biết họ bị nhiễm HIV. Có thể thấy, sự kỳ thị đối với các hành vi liên quan đến HIV và AIDS có tác động rất lớn đến người nhiễm HIV, có thể khiến họ cảm thấy không an toàn trong xã hội, hình thành tâm lý bị cách ly, cô lập và tình trạng trở nên trầm trọng hơn khi xuất hiện sự tự kỳ thị của chính bản thân người nhiễm HIV.

Tình đến 31/12/2012, vả nước có 208.886 người nhiễm HIV còn sống được báo cáo, trong đó có 59.839 người ở giai đoạn AIDS, lũy tích tử vong do HIV/AIDS là 62.184 người, chưa kể đến những người không được báo cáo hoặc không biết về tình trạng nhiễm HIV của mình, nhưng đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu định lượng nào ghi nhận và đưa vào phân tích các hình thức và mức độ khác nhau về kỳ thị và phân biệt đối xử mà người nhiễm HIV gặp phải, cũng như thay đổi trong xu hướng và theo thời gian, dù một số hành vi kỳ thị đã được đưa vào các tài liệu nói về HIV/AIDS.

Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV ngày càng ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động dự phòng, chăm sóc cũng như tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của người nhiễm HIV/AIDS. Để chống sự kỳ thị và phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV/AIDS hiệu quả hơn và có thể cải thiện cuộc sống của người nhiễm HIV ngày càng tốt hơn, thời gian tới cần nỗ lực hơn nữa để bảo đảm tính bảo mật của người nhiễm HIV trong quá trình từ xét nghiệm đến điều trị, đặc biệt là tại các cơ sở y tế và dịch vụ xã hội. Đồng thời, tiến hành nghiên cứu nhằm đưa ra các quy định pháp luật cụ thể để bảo vệ quyền của người nhiễm HIV, cùng với đó là nỗ lực hơn nữa để bảo đảm việc tuân thủ và triển khai thực hiện các chính sách liên quan.

Mặt khác, cũng cần có cơ chế để hỗ trợ chính những người nhiễm HIV/AIDS trong việc tìm kiếm trợ giúp pháp lý để giải quyết các vi phạm về quyền của họ như khi bị buộc thôi việc, bị cản trở không được khám chữa bệnh hoặc học tập vì lý do nhiễm HIV.

Ngoài ra, việc giáo dục và huy động sự tham gia của cộng đồng và xã hội cũng rất quan trọng, vì đa số trường hợp kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV bắt nguồn từ trong cộng đồng. Trong đó, giáo dục cần bao gồm cả nâng cao nhận thức về HIV, hành vi nguy cơ để giảm bớt sự lo lắng và sợ hãi của cộng đồng, bởi đây đang là nguyên nhân dẫn tới sự kỳ thị của họ đối với HIV/AIDS. Thúc đẩy để cộng đồng và xã hội tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS, với các biện pháp cụ thể nhằm giúp người nhiễm HIV xây dựng lòng tự tin, giảm kỳ thị và học về các quy định luật pháp liên quan về chống kỳ thị và phân biệt đối xử.

Lê Thị Hiệp

Sưu tầm

Xây dựng ý thức và thói quen chấp hành luật giao thông đường bộ của sinh viên khoa kinh tế – những khó khăn và biện pháp

1. Đánh giá thực trạng giáo dục an toàn giao thông trong nhà trường hiện nay 

Hiện nay trên đường có rất nhiều loại phương tiện giao thông. Nếu chúng ta không thực hiện đúng qui định của pháp luật an toàn giao thông thì có thể gây tai nạn cho mình và người khác.

Hằng ngày, thực trạng tai nạn giao thông với những con số, hình ảnh, bài viết, phóng sự…làm chúng ta phải giật mình. Mỗi năm trong cả nước có hàng ngàn gia đình mất đi người thân hay phải mang theo tàn tật suốt đời không còn khả năng lao động,…

Ở trường ta hiện nay đang diễn ra một thực trạng là phần lớn học sinh tham gia giao thông còn ý thức chưa cao như phóng nhanh, vượt ẩu, đi bộ và băng qua đường không đúng qui định, chạy xe đạp dàn hàng hai, ba, thậm chí là năm, sáu trên đường gây cản trở giao thông… Nhiều trường hợp không đội mũ bảo hiểm và vượt đèn đỏ khi đi qua các nút giao thông có đèn tín hiệu…

Những khó khăn, trở ngại.

+ Nhà trường chưa có biện pháp hiệu quả để giáo dục các học sinh – sinh viên

+ Một nhóm đối tượng khác biết luật pháp, hiểu pháp luật, được đào tạo bài bản nhưng vẫn cố tình vi phạm pháp luật. Biết mình sai, họ vẫn cố cãi nhằm “gỡ gạc” tội của mình. Thậm chí, có kẻ còn chống đối với lực lượng chức năng, chửi thề; liều lĩnh và mất nhân cách.

+ Người thi hành công vụ còn mỏng, trang thiết bị và điều kiện còn hạn chế, phần khác, chế tài xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông (TTATGT) chưa mang tính răn đe, một số cán bộ còn bỏ qua lỗi của người vi phạm…khiến họ “nhờn” luật.

2. Những biện pháp có hiệu quả nhằm xây dựng ý thức và thói quen tốt khi tham gia giao thông của sinh viên

– Trước hết, mỗi bản thân con người tham gia giao thông hãy tự giác cẩn thận khi tham gia giao thông

–  Xây dựng quy chế phối hợp với Công an cùng cấp; phối hợp giữa nhà trường với các cấp chính quyền ở địa phương để triển khai thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh, TTATGT trường học.

– Trang bị kiến thức an toàn giao thông cho sinh viên. Nâng cao ý thức chấp hành Luật Giao thông Đường bộ cho học sinh, sinh viên

– Tăng cường công tác giáo dục đảm bảo ATGT thông qua tuyên truyền cho học sinh, sinh viên về đảm bảo TTATGT, Tuyên truyền lưu động Luật Giao thông đường bộ, trang bị 100 bảng tin ATGT tại các trường học, đồng thời kết hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm…có những hành động cụ thể nhằm nâng cao nhận thức về TTATGT trong học sinh các cấp.
Về các biện pháp cụ thể, chúng ta có thể chỉ đạo các trường xây dựng “cổng trường an toàn”, ngoài ra còn xây dựng “cổng trường 5 không, 3 có” và đưa việc chấp hành Luật Giao thông Đường bộ làm một tiêu chí để đánh giá đạo đức của học sinh, cũng như một tiêu chí để đánh giá thi đua của nhà trường như: tổ chức cho học sinh, sinh viên ký cam kết không vi phạm Luật Giao thông Đường bộ và có những chế tài thích hợp trong việc đánh giá, nhận xét cuối năm về hạnh kiểm, đạo đức.

– Xây dựng văn hóa giao thông trong văn hóa học đường nhằm giảm thiểu tai nạn giao thông (TNGT) một cách bền vững, nên chăng, chúng ta phải bắt đầu xây dựng một môi trường VHGT lành mạnh với những tiêu chuẩn, mô hình cụ thể để tạo nên thói quen ứng xử có văn hóa, đúng pháp luật khi tham gia giao thông.

Văn hóa giao thông (VHGT) biểu hiện dưới nhiều khía cạnh, trong đó, người tham gia giao thông tự giác chấp hành các quy định của pháp luật, nghiêm túc chịu phạt nếu sai phạm, ứng xử văn minh, lịch sự khi xảy ra va chạm là thái độ có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng xã hội.

+ Tôn trọng pháp luật: Xây dựng VHGT là phải tập trung nâng cao ý thức, thay đổi suy nghĩ của người tham gia giao thông cần phải tôn trọng pháp luật.

+Trách nhiệm cộng đồng: Điều 32, Luật Giao thông đường bộ quy định: người đi bộ chỉ được qua đường ở những nơi có đèn tín hiệu, có vạch kẻ đường, có cầu vượt, có hầm dành cho người đi bộ. Ở những nơi không có các điều kiện này, người đi bộ khi qua đường phải tự chịu trách nhiệm về an toàn cho mình.

– Công tác phối hợp với các sở, ngành có liên quan trong việc giáo dục an toàn giao thông trong học sinh, sinh viên.

+ Các cơ sở giáo dục phổ thông và giáo dục phải thường xuyên có nhiệm vụ đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy an toàn giao thông trong trường học; lấy thái độ, hành vi về thực hiện an toàn giao thông của học sinh là một trong những tiêu chí đánh giá rèn luyện, xếp loại.

+ Kịp thời nhắc nhở sinh viên chấp hành các quy định về ATGT cũng như điều tiết, sắp xếp khu vực dừng, đỗ xe hợp lý, tránh ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm.

+ Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các trường trung học phổ thông chỉ đạo quyết liệt không để xảy ra tình trạng học sinh không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông bằng xe mô tô, xe gắn máy, tình trạng học sinh chưa đủ tuổi, chưa có giấy phép lái xe điều khiển xe mô tô, xe gắn máy đến trường.

+ Phối hợp giữa lực lượng Công an tỉnh với ngành Giáo dục – Đào tạo trong công tác đảm bảo TTATGT thường xuyên được quan tâm, góp phần nâng cao sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật về TTATGT trong đội ngũ cán bộ, công nhân viên, giáo viên, học sinh,  sinh viên lực lượng Cảnh sát Giao thông tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm TTATGT.

+ Công an các đơn vị, địa phương phối hợp với các trường học tổ chức tuyên truyền, vận động, sau đó sẽ tiến hành kiểm tra, chấn chỉnh và xử lý nghiêm các trường hợp học sinh, sinh viên vi phạm Luật Giao thông Đường bộ.

Thiết nghĩ, các biện pháp nêu trên nếu được thực hiện đồng bộ thì sẽ tạo được một phong trào thi đua mạnh mẽ trong ngành Giáo dục và sẽ đạt được những kết quả tốt trong việc đảm bảo TTATGT trong học sinh, sinh viên nói riêng và toàn xã hội nói chung.

Lê Thị Hiệp

Sưu tầm