Chuyên mục chính
DIỄN BIẾN NỢ XẤU TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2018
Lắt Tỵ Ca Sổm Sắc, Xêng Xông Sư Nụ; Xua Mua No Tụ; Pa Ni Đa Vỵ La Phông Sả
Sinh viên Lào K58 Quản trị kinh doanh
(GVHD: NCS. Đỗ Thị Thu Hiền)
Tóm tắt: Vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam năm 2018 đang có chuyển biến tích cực sau Nghị quyết 42/2017/QH14. Nợ xấu tại các NHTM giảm xuống 0,-5%/tổng dư nợ, giảm 3-5% so với năm 2017; dẫn đến lợi nhuận NHTM tăng trưởng nhanh chóng (trung bình tăng trên 150% tổng lợi nhuận năm 2017). Bên cạnh thành công đó, còn có những hạn chế, tồn tại cần có sự phối hợp, vào cuộc đồng bộ của các cơ quan quản lý triển khai nhiều giải pháp thiết thực nhằm cụ thể phương pháp phân loại nợ xấu, quản lý và mua bán nợ trên thị trường tài chính – tiền tệ Việt Nam. Là những yêu cầu cấp thiết đặt ra trong bối cảnh triển khai xử lý nợ xấu hiện nay cần giải quyết.
Từ khóa: Nợ xấu; Ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Đặt vấn đề
Nhìn lại ngành ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011 – 2017 đã có lúc ngành ngân hàng dường như lúng túng trước khối nợ xấu khổng lồ ước hàng trăm ngàn tỷ đồng. Công ty mua bán nợ xấu quốc gia (VAMC) mới được lập ra cũng chưa có cơ chế và vận động tương thích “ngay và luôn” để nhập cuộc mua-bán/xử lý nợ xấu, hỗ trợ các nhà băng làm sạch bảng cân đối tài sản. Tính đến cuối năm 2017, VAMC đã góp phần tạo ra những con số tích cực về tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt khoảng 18,17%, tăng trưởng huy động vốn 14,5%, tăng trưởng dư nợ 16,96%, xử lý nợ được hơn 70.000 tỷ đồng, giữ cho đồng nội tệ ngày càng ổn định hơn và tạp chí Tài chính Hoa Kỳ Bloomberg Market bình chọn tiền tệ VNĐ là một trong 3 đồng tiền ổn định nhất ở châu Á trong năm 2018, dự trữ ngoại tệ quốc gia hơn 54 tỷ USD về trước mục tiêu 2020, tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành đạt hơn 44%, và có xu hướng tăng trưởng lành mạnh và bền vững hơn.
- Nội dung
2.1. Thực trạng về Nợ xấu trong ngân hàng thương mại Việt Nam
Sau khi có Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, những khó khăn trong công tác xử lý nợ xấu trước đây đã dần được tháo gỡ, nhờ đó quá trình xử lý nợ xấu đã đạt được những kết quả tích cực:
Đến cuối tháng 3/2018, tổng nợ xấu nội bảng (chưa kể đến các nghiệp vụ tín dụng ngoại bảng) của hệ thống tổ chức tín dụng chiếm 2,18% tổng dư nợ. Tính luỹ kế từ 15/8/2018 đến cuối tháng 3/2018, toàn hệ thống đã xử lú được 100,5 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42.
Tại Hội nghị sơ kết 1 năm triển khai Nghị quyết số 42/2017/QH14 và Quyết định số 1058/QĐ-TTg tại NHNN Việt Nam cho biết: tính đến 30/6/2018, vốn điều lệ của toàn hệ thống ước đạt 519,01 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3% so với cuối năm 2017, tăng 6,3% so với cuối năm 2016. Vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống ước đạt 720,43 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với cuối năm 2017, tăng 21,1% so với cuối năm 2016.
Về kết quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42, NHNN cho biết, đến 30/6/2018, hệ thống TCTD đã xử lý được 138,29 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 (không bao gồm 61,04 nghìn tỷ đồng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu nội bảng). Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng là 70,23 nghìn tỷ đồng (chiếm 50,78%), xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết 42 là 21,59 nghìn tỷ đồng (chiếm 15,61%) và xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 46,46 nghìn tỷ đồng (chiếm 33,59%).
Trong khi đó, chất lượng tín dụng cũng được cải thiện. Các giải pháp xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ cùng với các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các TCTD.
Bên cạnh đó, Nghị quyết 42 bước đầu đã tạo điều kiện quan trọng góp phần xử lý nợ xấu tại các TCTD, đến cuối tháng 6/2018 tỷ lệ nợ xấu so với so với tổng nợ là 2,09%, giảm so với thời điểm 31/12/2016 (2,46%) được thống kê tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Theo các ngân hàng thương mại cũng có kết quả khả quan. Tỷ lệ nợ xấu các NHTM dao động từ 0,89% đến 4,07% trên tổng dư nợ.
Bảng 1: Tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng thương mại điển hình quý II/2018
|
Tại Sacombank, sau năm 2017 xử lý được hơn 15.000 tỷ đồng nợ xấu, nửa đầu năm 2018 tiếp tục thu hồi được hơn 3.600 tỷ đồng nợ xấu và tài sản tồn đọng; nợ xấu cuối năm 2017 là 4,28%, hiện đã giảm xuống còn 3,3% và dự kiến sẽ giảm xuống dưới 3% vào cuối năm 2018
Bên cạnh đó, tại VPbank, tổng lượng nợ xấu đã bán cho VAMC những năm qua vào khoảng 7.000 tỷ đồng, nhưng hiện số dư chỉ còn khoảng 4.000 tỷ đồng. VPbank là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cho vay khách hàng cao nhất 4,07%
Ngân hàng Bắc Á, ACB, KienLongbank vẫn tiếp tục nằm ở top đầu các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất hệ thống. Với việc giảm nợ xấu từ 1,07% cuối quý I/2018 xuống 0,98% LienVietPostbank cũng góp mặt vào nhóm tỷ lệ nợ xấu thấp.
Trong 3 ngân hàng lớn gồm: Vietcombank, Vietinbank và BIDV thì Vietcombank có tỷ lệ nợ xấu thấp nhất. BIDV có tỷ lệ nợ xấu cao nhất còn Vietinbank lại có tốc độ tăng nợ xấu cao nhất 24,6%.
Tính đến nay, ngoài Vietcombank và Techcombank, MBbank cũng đã góp mặt vào danh sách ngân hàng không có nợ xấu tại tổ chức mua bán nợ VAMC.
Trong năm 2018, VAMC lên kế hoạch mua khoảng từ 30.500 – 35.500 tỷ đồng nợ xấu. Dự kiến bao gồm từ 27.000 – 32.000 tỷ đồng giá trị mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt và 3.500 tỷ đồng mua nợ theo giá thị trường.
2.2. Nợ xấu giảm đồng nghĩa với lợi nhuận của ngân hàng tăng trưởng cao
Theo tổng cục thống kê cho biết trong Báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm 2018, tình đến thời điểm 20/6/2018, tổng phương tiện thanh toán toàn nghành ngân hàng tăng 7,96% so với cuối năm 2017 (cùng kỳ năm trước tăng 5,89%).
Mặt bằng lãi suất được giữ ổn định, lãi suất cho vay phổ biến ở mức 6%-9%/năm đối với ngắn hạn (khách hàng có tình hình tài chính lãnh mạnh, mức tín nhiệm cao, lãi suất cho vay từ 4%-5%/năm); 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn.
Nhiều ngân hàng đã thông báo về kết quả kinh doanh khả quan, lãi lớn trong 6 tháng đầu năm 2018, đạt trên 50% kế hoạch cả năm, điển hình như:
Lợi nhuận Vietcombank đạt mức cao, các tỷ suất sinh lời cải thiện. Cụ thể, lợi nhuận trước thuế đã đạt 7.722 tỷ đồng, tăng 52,7% so với cùng kỳ 2017, thực hiện 55,2% kế hoạch 2018. Các chỉ tiêu sinh lời được cải thiện như NIM đạt 2,76%; ROA đạt 1,24%; ROE đạt 22,71%, cao hơn mặt bằng chung của thị trường và tăng mạnh so với năm 2017.
Tốc độ tăng lợi nhuận đột biến tiếp tục thể hiện tại ở Ngân hàng quốc tế (VIB) sau 5 tháng đầu năm 2018 và đạt tới 918 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng gần 230% so với cùng kỳ năm trước đạt gần 50% kế hoạch lợi nhuận cho cả năm 2018.
2.3. Tồn tại, hạn chế
Mặc dù công tác cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu trong thời gian qua đã đạt được kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc, đòi hỏi sự chung sức, nỗ lực của toàn hệ thống chính trị, đặc biệt là sự hỗ trợ, phối hợp của các cơ quan quản lý Nhà nước, cụ thể:
Thứ nhất, Việc thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm (TSĐB) của các khoản nợ xấu còn hạn chế do chưa có thị trường mua bán nợ thật sự chuyên nghiệp dẫn đến việc mua bán nợ xấu chưa thật sự sôi động, các thương vụ lớn chưa phát sinh nhiều.
Thứ hai, Việc triển khai Nghị quyết 42 trong thực tiễn còn gặp nhiều bất cập, như việc thực hiện nội dung liên quan đến việc hoàn trả TSBĐ là vật chứng trong vụ án hình sự sau khi đã hoàn tất các thủ tục xác minh chứng cứ quy định tại Nghị quyết số 42.
Thứ ba, Vấn đề liên quan đến thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ và nghĩa vụ nộp thuế có ảnh hưởng đến việc thực hiện thủ tục sang tên cho người mua; công tác giữ gìn, đảm bảo an ninh trật tự và hỗ trợ các TCTD trong việc thu giữ TSBĐ của các khoản nợ xấu; vấn đề xử lý TSBĐ là dự án bất động sản còn dở dang; trường hợp đăng ký giao dịch bảo đảm thiếu chữ ký của bên thế chấp; quyền nhận thế chấp, đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai là tài sản bảo đảm cho các khoản nợ mà các cá nhân, tổ chức mua lại từ VAMC…
Thứ tư, Cơ chế tiếp cận thông tin về tình trạng TSBĐ chưa đáp ứng yêu cầu của các TCTD nên các TCTD gặp khó khăn trong việc xác định TSĐB nào đang tranh chấp, TSĐB nào đang phải áp dụng biện pháp khẩn cấp, dẫn đến cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau gây khó khăn khi áp dụng các biện pháp xử lý TSĐB theo Nghị quyết 42.
Thứ năm, Tranh chấp về TSĐB, trường hợp khách hàng cố tình chống đối, không bàn giao TSĐB buộc các tổ chức tín dụng phải khởi kiện ra tòa. Hay trường hợp khách hàng thế chấp TSĐB là tài sản hình thành trong tương lai…
2.4. Nguyên nhân của những hạn chế trên
Nguyên nhân từ phía DN
Thứ nhất, sự làm ăn thua lỗ của các DN, nhất là DNNN. Có đến 70% nợ xấu ngân hàng là nợ của các DNNN do đây là nhóm có nhiều thuận lợi trong tiếp cận tín dụng và chiếm thị phần lớn trong tổng dư nợ tín dụng của toàn thể nền kinh tế. Phần nợ xấu lớn thứ hai (sau DNNN) là xuất phát từ một số DN tư nhân lớn, trong đó tập trung chủ yếu là các khoản vay đầu tư bất động sản (BĐS), chứng khoán, đầu tư ngoài ngành…
Hầu hết các DN, nhất là DNNN đều có chi phí vốn vay lớn, dẫn đến mất cân bằng về tài chính. Nhiều đơn vị tổng lãi vay phải trả lớn gấp nhiều lần quỹ tiền lương, tỷ lệ sinh lời của tài sản nhỏ hơn lãi suất vay, hiệu quả kinh doanh thấp, tài chính kém lành mạnh, vốn chủ sở hữu nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh doanh hạn chế, trong khi phải đối diện với những khó khăn lớn của kinh tế trong, ngoài nước đó là sức mua kém, tồn kho lớn, doanh thu giảm sút, DN không có nguồn để trả nợ cả gốc và lãi. Các khoản vay ngân hàng vì thế mà trở thành nợ xấu là lẽ đương nhiên.
Thứ hai, nhiều công ty dùng nợ ngắn hạn đầu tư dài hạn. Khi đang gặp khó khăn về vốn, việc DN lấy vay ngắn hạn cho đầu tư dài hạn là khá phổ biến. Việc sử dụng vốn sai nguyên tắc (dùng vốn ngắn hạn đầu tư dài hạn) là con đường ngắn nhất dẫn tới nợ quá hạn, nợ xấu cho DN và hệ thống ngân hàng.
Ba là, nhiều công ty dùng vốn vay đầu tư ra ngoài ngành, đặc biệt vào BĐS. Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, tổng dư nợ cho vay BĐS chiếm khoảng 15% tổng dư nợ tín dụng của cả nền kinh tế (năm 2013-2017). Tỉ lệ này là rất cao so với một số nước trong khu vực như Thái Lan 6%, Malaysia 7%… Điều này dễ dẫn đến khi thị trường BĐS đóng băng, suy giảm thì ngay lập tức sẽ kéo các NHTM rơi vào khủng hoảng nợ xấu và ảnh hưởng đến sức khoẻ của toàn bộ hệ thống tài chính Việt Nam.
Nguyên nhân từ các NHTM
Một là, tiêu thức phân loại nợ chưa phản ánh đúng số nợ xấu. Hiện nay chưa có quy định rõ ràng và mang tính pháp lý buộc các tổ chức tín dụng phân loại nợ theo mức độ rủi ro của từng khách hàng. Điều này dẫn tới một kết quả là cùng một khoản nợ có thể phân vào các loại khác nhau. Nó lý giải vì sao số liệu thống kê về nợ xấu không thống nhất giữa các cơ quan quản lý tài chính (NHNN, các NHTM, Quý tiền tệ quốc tế IMF, Uỷ ban giám sát tài chính quôc sgia NFSC). Hậu quả là một số tổ chức tín dụng lợi dụng để điều chỉnh nhóm nợ để trích ít dự phòng nhằm tăng lợi nhuận, theo kiểu “giấu nợ, khoe lãi”.
Hai là, vướng mắc trong cơ chế xử lý tài sản đảm bảo. Tài sản đảm bảo thường là BĐS. Khi DN mất khả năng thanh toán, ngân hàng được phép đứng ra bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ, nhưng theo quy định hiện hành thì không thể sang tên BĐS được nếu chủ tài sản không đồng ý. Nếu mang ra tòa thì thời gian xử lý rất dài, mất nhiều năm, thủ tục rườm rà, phức tạp, qua nhiều khâu, nhiều cấp, quá trình bàn giao tài sản chậm… làm cho tài sản hư hỏng, giảm giá trị BĐS, giá trị thu hồi nhỏ hơn dự kiến ban đầu.
Đấy là chưa tính tới trong lĩnh vực BĐS, ngân hàng cho vay 60% giá trị dự án, nhưng ngay từ khi xác định giá trị tài sản lại nâng cao hơn giá trị thực của nó “giá trị ảo của tài sản”, do vậy mặc dù thanh lý toàn bộ tài sản đảm bảo cũng không thu hồi được nợ, ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả thu hồi thông nợ qua tài sản đảm bảo.
Ba là, về phía bản thân các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại. Một bộ phận lớn vốn tín dụng sử dụng để đầu tư vào những lĩnh vực được coi là có mức độ mạo hiểm cao, tiềm ẩn nhiều rủi ro như BĐS, chứng khoán do sự ”mở cửa” của các NHTM. Trong một thời gian dài, các TCTD đều theo đuổi chiến lược đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, trong khi năng lực quản trị rủi ro hạn chế, chậm cải thiện, không theo kịp nhịp độ phát triển, không kiểm soát được chất lượng tín dụng. Do năng lực cán bộ yếu nên công tác kiểm tra, giám sát đạt hiệu quả thấp, không phát hiện ra các sai sót, các vi phạm nên không có biện pháp xử lý kịp thời, dẫn tới nhiều vụ việc sau một thời gian dài, mức độ trầm trọng mới được phát hiện.
Còn tồn tại hành vi đảo nợ, che dấu nợ bằng cách hạch toán nợ và tài khoản phải thu, ủy thác đầu tư… Do tính minh bạch còn hạn chế, số nợ xấu công bố qua báo cáo của TCTD không đúng thực chất, làm cho số lũy kế nợ xấu thực tăng theo thời gian, việc xử lý ngày càng khó khăn.
2.5. Giải pháp xử lý nợ xấu
Xử lý nợ xấu trước hết là của các TCTD, Nhà nước chỉ can thiệp khi các TCTD không thể tự xử lý được. Và dù áp dụng bằng hình thức nào (như thu nợ trực tiếp từ khách nợ, bán lại nợ, cơ cấu lại nợ…) cũng phải tôn trọng nguyên tắc thị trường, đảm bảo hiệu quả kinh tế cho các bên tham gia, đồng thời nhằm khôi phục lại hoạt động sản xuất kinh doanh cho các DN, vì đây là khách hàng của TCTD, bởi vì các TCTD chỉ phát triển, ổn định và có hiệu quả khi các khách hàng của mình hoạt động có lãi.
Nhưng xử lý nợ xấu không có nghĩa là cứu cả các TCTD yếu kém, mà đây là một cơ hội loại bỏ các TCTD và ngân hàng yếu kém (giải thể, phá sản, sáp nhập…). Chỉ những TCTD nào có đủ năng lực mới được tồn tại và phát triển. Điều đó có nghĩa là trong giai đoạn hiện nay, xử lý nợ xấu có thể coi là công cụ để tái cơ cấu lại các TCTD, đồng thời ngăn chặn nguy cơ đổ vỡ hệ thống, ảnh hưởng đến sự ổn định của nền kinh tế.
Nhóm giải pháp về phía các TCTD
Các TCTD phải tự nỗ lực xử lý khiếm khuyết của mình. Thông qua các biện pháp đã và đang làm như: bán nợ, đòi trực tiếp, thanh lý tài sản thế chấp, sử dụng quỹ dự phòng bù đắp các khoản nợ không thu hồi được, hoặc chuyển nợ thành vốn góp nếu thấy khánh nợ có tương lai phát triển. Các tổ chức này đi tìm, hoặc bị sáp nhập một cách cưỡng bức bởi một TCTD đủ mạnh. Nếu không sáp nhập được thì các TCTD này sẽ đặt trong điều kiện kiểm soát đặc biệt của NHNN, nhằm từng bước xử lý các tồn đọng để đi tới giải thể. Do quy mô tín dụng ngày một lớn, bản thân các TCTD phải có giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động, giảm thiểu rủi ro hoạt động để ngăn ngừa nợ xấu xuất hiện trở lại, như ban hành đầy đủ quy trình cho vay, năng cao năng lực quản trị, điều hành, quản trị rủi ro.
Nhóm giải pháp về phía Ngân hàng Nhà nước
NHNN phải có biện pháp quyết liệt để xác định số thực về quy mô và cơ cấu của nợ xấu hiện nay, từ số liệu này mới có thể áp dụng các giải pháp cụ thể cho từng TCTD. Xử lý nghiêm hành vi che dấu nợ xấu. Đồng thời sửa đổi, bổ sung về cách phân loại nợ, trích lập sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong các trường hợp cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập và sử dụng quỹ dự phòng sai chế độ. Đồng thời có cơ chế buộc các TCTD trong một thời gian phải đưa nợ xấu xuống một giới hạn nhất định.
Nhóm giải pháp về phía VAMC
VAMC cần đẩy mạnh công tác mua nợ bằng Trái phiếu, phát hành trái phiếu để mua nợ thị trường theo quy định tại Nghị định số 53/2013/NĐ-CP (đã sửa đổi, bổ sung) và Quyết định 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 để tạo nguồn vốn triển khai hiệu quả mua nọ theo giá thị trường.
Cùng với đó, đẩy mạnh việc tìm kiếm, khai thác danh sách các khoản nợ đã mua bằng TPĐB, các khoản nợ đang hạch toán nội, ngoại bảng tại TCTD, triển khai làm việc với các TCTD và đối tác, lựa chọn các khoản nợ có tính khả thi trong việc xử lý sau khi mua, để có cơ sở đề xuất VAMC thực hiện mua khoản nợ theo giá thị trường.
VAMC cần tích cực triển khai bán đấu giá/chào giá cạnh tranh/bán thỏa thuận các khoản nợ và tài sản bảo đảm để thu hồi nợ; đồng thời VAMC phải bám sát quá trình khởi kiện/thi hành án đối với các khoản nợ đã ủy quyền cho TCTD thực hiện để xử lý các vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ thu hồi nợ. Phối hợp với các TCTD thống nhất áp dụng các biện pháp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc xử lý các khoản nợ xấu và tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu; Theo dõi đôn đốc các TCTD thu nợ, xử lý TSBĐ mà VAMC đã ủy quyền.
Nhóm giải pháp về phía các DN
Nâng cao hiệu quả kinh doanh, đảm bảo cơ cấu vốn hợp lý, bố trí vốn đúng nguyên tắc, sử dụng vốn có hiệu quả, ổn định lượng tiền mặt cần thiết cho cán cân thanh toán, cân đối hệ số vốn vay trên vốn chủ (D/E) không vươt quá trung bình của ngành, thường xuyên đánh giá thực trạng tài chính DN thông qua các tỷ số tài chính đặc trưng để đưa ra các kiến nghị cảnh báo về tình hình tài chính là giải pháp trước mắt cũng như lâu dài xử lý và ngăn ngừa nợ xấu.
- Kết luận
Tóm lại, những bất cập trong phân loại nợ, vấn đề sở hữu chéo, vấn đề đạo đức nghệ nghiệp… đã làm nảy sinh nợ xấu tại các ngân hàng và có chiều hướng ngày càng tăng. Cho dù nợ xấu đã có xu hướng giảm dần nhưng hiện tại vẫn đang tác động tiêu cực đến điều hành chính sách tiền tệ của NHNN, đến việc lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế và tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng. Chừng nào vẫn đề nợ xấu chưa được chưa xử lý triệt để và hiệu quả thực tế thì việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ không đạt hiệu quả.
GDP có thể khiến chúng ta bị ảnh hưởng trong việc đánh giá đúng bức tranh kinh tế?
Những gì chúng ta đo lường sẽ ảnh hưởng đến hành vi của chúng ta. Nếu chỉ tập trung vào phúc lợi vật chất – ví dụ như sản xuất hàng hóa, thay vì sức khỏe, giáo dục và môi trường – chúng ta sẽ bị lạc hướng theo cách mà chỉ số này bị lạc hướng: Chúng ta sẽ quan trọng hóa vật chất hơn.
Chưa đến 10 năm trước, Ủy ban Đo lường Hiệu quả kinh tế và Tiến bộ xã hội Quốc tế đã đưa ra báo cáo Mismeasuring Our Lives: Why GDP Doesn’t Add Up (Tạm dịch: Đo lường sai lệch mức sống: Tại sao GDP không phải chỉ số hiệu quả). Tiêu đề tóm tắt: GDP không phải là một chỉ số tốt để đo lường phúc lợi. Những gì chúng ta đo lường ảnh hưởng hành vi của chúng ta. Và nếu chúng ta tính toán sai lệch, chúng ta sẽ có những hành vi sai lệch. Diễn đàn kinh tế thế giới – WEF, rất hài lòng với sự đón nhận dành cho báo cáo này. Báo cáo đã thúc đẩy một phong trào quốc tế giữa các học giả, xã hội và chính phủ trong việc xây dựng và sử dụng các chỉ số phản ánh đầy đủ về phúc lợi hơn. OECD đã xây dựng Better Life Index (Chỉ số Tiến bộ Đời sống), chứa một loạt các số liệu phản ánh tốt hơn những gì cấu thành phúc lợi.
Tại Diễn đàn của OECD về Thống kê, Kiến thức và Chính sách Thế giới lần thứ sáu tại Incheon, Hàn Quốc, nhóm chuyên gia cấp cao về Đo lường hiệu quả kinh tế và tiến bộ xã hội đã đưa ra báo cáo của mình, Beyond GDP: Measuring What Counts for Economic and Social Performance (tạm dịch: Rộng hơn GDP: Đo lường các nhân tố tính vào hiệu quả kinh tế và xã hội). Báo cáo mới làm rõ hơn một số chủ đề, như niềm tin và sự thiếu an toàn, vốn chỉ được đề cập ngắn gọn bởi Mismeasuring Our Lives, và khai thác sâu hơn một số chủ đề khác, như bất bình đẳng và phát triển bền vững. Tài liệu này cũng giải thích tại sao các chỉ số không toàn diện đã dẫn đến những thiếu sót trong chính sách ở các lĩnh vực khác nhau. Chỉ số bị lạc quan hóa đã gây ra những tác động tiêu cực, kéo dài quá trình suy thoái kinh tế 2008 đối với năng suất và phúc lợi.
Tình hình chính trị ở Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác trong những năm gần đây đã phản ánh tình trạng an ninh yếu kém, và vấn đề này hầu như không được phản ánh vào GDP. Một loạt các chính sách chỉ chú trọng GDP và thắt chặt tài khóa đã dẫn đến vấn nạn này. Cải cách lương hưu buộc các cá nhân phải chịu nhiều rủi ro hơn. Cải cách thị trường lao động – với mục đích thúc đẩy sự linh hoạt của người lao động thực ra đang làm suy yếu vị thế đàm phán của công nhân. Doanh nghiệp sẽ dễ dàng sa thải họ, và cắt giảm tiền lương. Các số chỉ số toàn diện hơn ít nhất sẽ cân nhắc các chi phí cơ hội này. Qua đó, buộc các nhà hoạch định chính sách phải tăng cường an ninh và công bằng.
Một nhóm nhỏ các quốc gia, đứng đầu là Scotland, đã thành lập Liên minh Phúc lợi Kinh tế (Wellbeing Economy Alliance), với hy vọng rằng các chính phủ sẽ coi phúc lợi là trọng tâm của chương trình nghị sự và từ đó chuyển hướng ngân sách của họ. Ví dụ, New Zealand tập trung vào phúc lợi, hướng sự chú ý và nguồn lực của họ nhiều hơn đến vấn đề nghèo đói ở trẻ em.Các chỉ số toàn diện hơn cũng sẽ trở thành công cụ chẩn đoán quan trọng, giúp các quốc gia xác định vấn đề trước khi chúng vượt khỏi tầm kiểm soát và chọn đúng công cụ để giải quyết chúng. Chẳng hạn, Mỹ đã tập trung nhiều hơn vào sức khỏe, thay vì chỉ dựa vào GDP, sự suy giảm tuổi thọ của người dân, đã xảy ra cách đây nhiều năm. Tương tự như vậy, các chỉ số bình đẳng về cơ hội tiếp cận nguồn lực đã cho thấy có một sự nhầm tưởng khi xem Mỹ là nơi có rất nhiều cơ hội để phát triển. Vâng, bất cứ ai cũng có cơ hội phát triển, miễn là họ có cha mẹ giàu, và da trắng.
Dữ liệu tiết lộ rằng Hoa Kỳ đang mắc kẹt với cái gọi là bẫy bất bình đẳng: Những người nghèo vẫn kẹt ở đó. Nếu chúng ta muốn loại bỏ những cái bẫy, trước tiên chúng ta phải biết rằng chúng tồn tại, và sau đó xác định những gì gây ra chúng. Cách đây hơn 25 năm, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã hoạt động với phương châm “Thúc đẩy con người”. Điều đó thật khó khăn, ngay cả trong một xã hội dân chủ. Doanh nghiệp và lợi ích nhóm luôn tìm cách để lợi ích của họ được ưu tiên hàng đầu. Việc cắt giảm thuế của Mỹ được ban hành bởi chính quyền Trump vào thời điểm cuối năm 2017 là một ví dụ. Những người bình thường – tầng lớp trung lưu suy yếu – phải chịu tăng thuế, hàng triệu người sẽ mất bảo hiểm y tế, để tài trợ việc cắt giảm thuế cho các tỷ phú và tập đoàn. Nếu chúng ta muốn ưu tiên dân chúng lên hàng đầu, chúng ta phải biết điều gì quan trọng với họ, điều gì cải thiện sức khỏe của họ và làm thế nào ta có thể giúp họ. Chương trình nghị sự về đo lường GDP sẽ tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp WEF đạt được những mục tiêu quan trọng này.
Theo Tri thức trẻ
VEPR: Thuế tài sản là một cú sốc về tiêu dùng
Đây là nhận định được đưa ra Tại hội thảo Công bố kết quả nghiên cứu “Khả năng áp dụng và tác động của Thuế tài sản tại Việt Nam” do Viện nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) tổ chức ngày 12/12.
Mới đây, Bộ Tài chính đã đưa ra đề nghị xây dựng dự thảo Luật thuế tài sản, đánh thuế đối với đất ở và nhà. Với nhà ở, Bộ Tài chính xây dựng 2 phương án đánh thuế: Một là đối với nhà ở có giá trị từ 700 triệu đồng trở lên; hai là nhà ở có giá trị 1 tỷ đồng trở lên.
Ngưỡng không chịu thuế là nhà có giá trị 700 triệu đồng trở xuống hoặc 1 tỷ đồng trở xuống. Điều này có nghĩa, phần bị đánh thuế tài sản là phần có giá trị trên 700 triệu đồng hoặc trên 1 tỷ đồng. Bộ Tài chính giải thích cụ thể, với ngưỡng không chịu thuế là 700 triệu đồng thì một căn nhà có giá trị 800 triệu đồng sẽ bị đánh thuế với phần giá trị 100 triệu đồng, tức 0,3-0,4% của 100 triệu đồng. Còn đối với đất ở (bao gồm cả trường hợp sử dụng để kinh doanh; đất xây dựng nhà chung cư): áp dụng mức thuế suất là 0,3% trên toàn bộ giá trị đất.
Tại hội thảo, TS. Nguyễn Việt Cường, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, thành viên nhóm nghiên cứu đã đưa ra tham luận dự báo ảnh hưởng của Luật Thuế tài sản lên phúc lợi hộ gia đình. Tham luận này dựa trên số liệu “Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2016” do Tổng cục Thống kê điều tra với mẫu 9.399 hộ gia đình tại 6 vùng địa lý, bao gồm cả nông thôn và thành thị.
Đưa ra các kịch bản nghiên cứu thuế tài sản với các ngưỡng chịu thuế 700 triệu đồng, 1 tỷ đồng, 2 tỷ đồng; với thuế suất 0,3% và 0,4%, TS. Nguyễn Việt Cường đã chỉ ra, đối với ngưỡng 700 triệu đồng, nếu thuế suất 0,3% thì mức thuế mỗi hộ phải nộp là 978.000 đồng (bằng 0,66% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 638.000 đồng (bằng 0,27% tổng chi tiêu). Nếu thuế suất là 0,4% thì mức thuế mỗi hộ phải nộp là 1,3 triệu đồng (bằng 0,89% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 851.000 đồng (bằng 0,36% tổng chi tiêu). Đối với ngưỡng 1 tỷ đồng, nếu thuế suất là 0,3%, mức thuế mỗi hộ phải nộp là 897.000 đồng (bằng 0,61% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 600.000 đồng (bằng 0,25% tổng chi tiêu). Nếu thuế suất là 0,4%, mức thuế mỗi hộ phải nộp là 1,198 triệu đồng (bằng 0,82% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 800.000 đồng (bằng 0,34% tổng chi tiêu) Đối với ngưỡng 2 tỷ đồng, nếu thuế suất là 0,3%, mức thuế mỗi hộ phải nộp là 763.000 đồng (bằng 0,53% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 525.000 đồng (bằng 0,22% tổng chi tiêu). Nếu thuế suất là 0,4%, mức thuế mỗi hộ phải nộp là 1,019 triệu đồng (bằng 0,72% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 700.000 đồng (bằng 0,29% tổng chi tiêu).
“Phương án thuế suất 0,3% và ngưỡng chịu thuế 2 tỷ đồng đối với nhà ở là có tác động nhỏ nhất với hộ gia đình. Phương án thuế suất 0,4% và ngưỡng chịu thuế 1 tỷ đồng đối với nhà ở có tác động nhỏ hơn đến các hộ gia đình nhưng vẫn duy trì được doanh thu thuế cao”, TS. Cường nhận định. Theo ông Cường, thuế tài sản sẽ làm giảm thu nhập khả dụng (giảm 0,9%), chi tiêu thực tế (giảm 0,7%). Các hộ gia đình có chủ hộ là nữ, chủ hộ nhiều tuổi, chủ hộ có học vấn cao bị ảnh hưởng nhiều hơn các hộ có chủ hộ là nam giới, trẻ tuổi và học vấn thấp. Các hộ gia đình có nhiều người cao tuổi bị ảnh hưởng nhiều hơn. Các nhóm dân tộc Kinh, Tày, Mường chịu ảnh hưởng lớn hơn các nhóm dân tộc khác.
PGS. TS. Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách cũng cho rằng, dự thảo Luật Thuế tài sản lần này được đưa ra trong bối cảnh hiện chưa có cơ sở dữ liệu đầy đủ về phân phối tài sản của xã hội, trong khi đây sẽ là hàm tham chiếu để tính mốc đánh thuế hợp lý nhất. Khi chưa có đầy đủ dữ liệu thì mức đánh thuế nhà trên 700 triệu đồng Bộ đưa ra là chưa hợp lý. Theo PGS. Nguyễn Đức Thành, thuế tài sản nếu được ban hành như dự thảo hiện nay sẽ làm giảm thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình. Tuy nhiên, nó không ảnh hưởng tới đói nghèo và chủ yếu làm giảm thu nhập của người giàu. Do đó, chỉ số bất bình đẳng được cải thiện, nhưng chủ yếu do người giàu bị nghèo đi chứ không phải do người nghèo được cải thiện cuộc sống. “Đây không phải là sắc thuế bền vững, nếu chi tiêu công không thúc đẩy phúc lợi và năng suất toàn xã hội”, ông Thành nhấn mạnh.
PGS. Nguyễn Đức Thành cho rằng, muốn cải thiện thu, tạo được sự đồng thuận cao của người dân thì việc nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình ngân sách ở mọi cấp là rất quan trọng. Đặc biệt là việc nâng cao giải trình trong các khoản chi ngân sách. Việc cải thiện ngân sách cũng có thể bắt đầu từ việc tiết kiệm chi, không nhất thiết phải tăng cường thu./.
Theo Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách
CTĐT NGÀNH TCNH NĂM 2018
CÔNG ĐOÀN KHOA KINH TẾ VÀ GIẢI BÓNG CHUYỀN CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 20/11
Với mục đích giao lưu, nâng cao tinh thần thể dục thể thao, tăng cường sức khỏe và chào mừng kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2018, Công đoàn trường Đại học Tây Bắc đã tổ chức giải bóng chuyền nữ cho giảng viên giữa các công đoàn cơ sở tại sân thể thao của trường.
Tham gia giải bóng chuyền có 10 đội bóng, với gần 100 vận động viên đến từ các công đoàn cơ sở tham gia thi đấu, và hàng trăm sinh viên, giảng viên cán bộ đến cổ vũ cho các trận đấu.
Đội thi Công đoàn Khoa Kinh tế thuộc bảng B với thế mạnh các đoàn viên trẻ, khoẻ, nhiệt tình và lối chơi thông minh, đã chiến thắng chênh lệch khá lớn trong các trận bóng với các đội thi của Công đoàn khoa Tiểu học mầm non, Ngoại ngữ, Sử địa, Văn phòng.
Các trận đấu diễn ra sôi nổi với tinh thần giao lưu, đoàn kết, học hỏi nhưng cũng không kém phần gay cấn và quyết liệt. Đội công đoàn Khoa Kinh tế đã cống hiến cho khán giả nhiều pha bóng hay, đẹp mắt, hấp dẫn, bám đuổi nhau quyết liệt về điểm số và giành giải khuyến khích.
Đội thi công đoàn khoa Kinh tế đã tham gia giải bóng chuyền nữ do công đoàn trường tổ chức đã để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trong lòng các vận động viên và những người hâm mộ môn bóng chuyền. Đây cũng là dịp để các đoàn viên công đoàn các đơn vị trong trường Đại học Tây Bắc có cơ hội giao lưu và học hỏi nhau. Qua đó, tạo mối quan hệ thân thiết, hiểu biết lẫn nhau, thắt chặt tình đoàn kết giữa các công đoàn cơ sở nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11.
Dưới đây là một số hình ảnh của đội thi công đoàn khoa Kinh tế trong khuôn khổ giải bóng chuyền nữ do công đoàn trường Đại học Tây Bắc tổ chức nhân dịp kỉ niệm ngày nhà giáo Việt Nam 20/11/2018.
Đỗ Thị Thu Hiền
Khoa Kinh tế tham gia Hội thi tiếng hát sinh viên năm học 2018 – 2019
Căn cứ vào kế hoạch năm học 2018 – 2019, 19h00 ngày 17/11/2018, Trường Đại học Tây Bắc đã tổ chức Hội thi tiếng hát sinh viên với sự tham gia của 10 khoa đào tạo trong trường.
Hội thi diễn ra sôi nổi và rất kịch tính với tính chuyên môn cao và sự đầu tư kĩ lưỡng cả về nội dung và hình thức. Sau 30 ngày nỗ lực tập luyện vất vả và chăm chỉ khoa Kinh tế tham gia Hội thi tiếng hát sinh viên năm học 2018 – 2019 với tinh thần đoàn kết, tự tin và quyết tâm giành giải cao nhất của cuộc thi. Khoa Kinh tế tham gia thi ở lượt thứ 7, mà trước đó là khoa Tiểu học – Mầm non rất mạnh về văn nghệ nên đã đặt lên đôi vai của các bạn khoa Kinh tế áp lực rất lớn. Mặc dù vậy, đội thi của khoa Kinh tế vẫn rất tự tin với màn biểu diễn của mình.
Tiết mục mở đầu là tiết mục múa Thái nhằm gợi cho ban giám khảo và các bạn khán giả về bản sắc dân tộc Thái vùng Tây Bắc là áo Cóm và chiếc Khăn Piêu kết hợp với những chiếc mẹt hoa rất uyển chuyển.
Tiết mục thứ 2 là tiết mục hết sức đặc sắc đến từ đất nước triệu voi – CHDCND Lào xinh đẹp. Điều độc đáo trong múa Lào truyền thống đã được các bạn lưu học sinh Lào đang học tập tại khoa Kinh tế thể hiện. Đảng là đôi mắt, là trái tim của quần chúng nhân dân Lào, nhằm chuyển tải những thông điệp sâu sắc về tình hữu nghị Việt – Lào.
Sau tiết mục hấp dẫn đến từ các bạn lưu học sinh lào là bài hợp ca nam – nữ “Sơn la miền đất yêu thương” với sự thể hiện của các bạn sinh viên nam, nữ đến từ khoa Kinh tế, tiết mục mang đến cho các bạn khan giả, các bạn sinh viên đang học tập tại Sơn La hiểu và yêu mến mảnh đất Sơn La anh hùng nhiều hơn nữa và góp một phần công sức nhỏ bé vào xây dựng mảnh đất Sơn La giàu đẹp.
Sau một quá trình diễn ra hội thi hết sức nghiêm túc và sôi nổi. Khoa kinh tế dù đã cố gắng hết mình và mang về giải nhì. Đó là chiến thắng thay lời cảm ơn của các bạn sinh viên đến thầy cô khoa Kinh tế đã luôn dạy dỗ, chỉ bảo, đồng hành cùng các bạn sinh viên không chỉ trên giảng đường mà trong các hoạt động văn nghê, thể dục thể thao
Sau đây là một số hình ảnh tập luyện chăm chỉ và tham gia hội thi của khoa Kinh tế:
Đinh Thu Hiền
BỘ MÔN KẾ TOÁN ĐƯA SINH VIÊN K56 ĐẠI HỌC KẾ TOÁN TỚI ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Thực tập tốt nghiệp là hoạt động giáo dục đặc thù nhằm góp phần hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực nghề nghiệp cần thiết của sinh viên theo mục tiêu đào tạo đã đề ra. Đối với sinh viên ngành Kế toán, hoạt động thực tập tốt nghiệp có vai trò quan trọng không chỉ với quá trình học tập mà còn với cả sự nghiệp của sinh viên sau này. Nhằm nâng cao hiệu quả thực tập tốt nghiệp của snh viên chuyên ngành Kế toán, Bộ môn Kế toán, Khoa Kinh tế, trường Đại học Tây Bắc đã thực hiện đổi mới chương trình thực tập, gắn liền thực tập với thực hành nghề nghiệp theo đúng nghĩa. Đặc biệt, năm học 2018-2019 là năm học bắt đầu có sự đổi mới chương trình đào tạo của khoa Kinh tế, Khoa Kinh tế đã ký nhiều hợp đồng với các doanh nghiệp về việc tiếp nhận thực tập sinh của Khoa Kinh tế.
Một trong những bộ môn tiên phong trong việc đổi mới chương trình đào tạo, đặc biệt là thực tập tốt nghiệp, sáng ngày 19 tháng 11 năm 2018, Ts. Vũ Thị Sen – trưởng bộ môn Kế toán và cô Lương Thị Thủy – GV bộ môn Kế toán đã trực tiếp đưa 13 sinh viên K56 ĐH Kế toán tới công ty THHH tư vấn giải pháp quản lý miền Bắc để các em bước đầu được kiểm tra kiến thức chuyên môn, chuẩn bị cho kỳ thực tập cuối năm học này.
(Chị Dương Thùy Dung – phó Giám đốc công ty THHH tư vấn giải pháp quản lý miền Bắc đang trao đổi và phổ biến quy chế tới các em sinh viên)
Chương trình thực tập tốt nghiệp theo hướng đổi mới, yêu cầu cao hơn sự tự chủ động của sinh viên, từ việc các em tự thu thập chứng từ gốc đầy đủ theo nội dung các nghiệp vụ, tới việc tự lên sổ và báo cáo kế toán theo cách thức các em lựa chọn, đòi hỏi các em phải nắm được quy trình và hệ thống lại được kiến thức lý thuyết và thực hành kế toán để vận dụng vào thực tế thực tập. Mặt khác sự tự chủ động cho thực tập của mình đòi hỏi các em phải tự vượt qua những thử thách, khó khăn khi tiếp cận công việc trong môi trường thực tế. Đây là cơ hội tốt để các em học hỏi, nâng cao trình độ, hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp. Đặc biệt, trong bộ kết quả báo cáo thực tập, sinh viên cần phải chứng minh sự nỗ lực trong quá trình thực tập bằng cách thuyết minh được những nội dung công việc mình đã làm, cách thức thực hiện, đồng thời biết cách đối chiếu, kiểm tra số liệu kế toán để nhận diện những sai sót và sửa sai trong bộ sản phẩm cuối cùng của kỳ thực tập. Thời gian thực tập này chính là cơ hội tốt để sinh viên tìm kiếm cơ hội việc làm, hòa nhịp với hoạt động lao động thực tế, mong rằng các em sẽ tích lũy được kinh nghiệm, chuẩn bị hành trang để tự tin hơn khi rời giảng đường đại học.
Lương Thị Thủy
BÀI THƠ HỌC TRÒ KÍNH TẶNG THẦY CÔ NHÂN NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM
Kính chúc các thầy cô ngày 20/11 nhiều niềm vui!

Bài thơ
Lời ru của thầy!
Mỗi nghề có một lời ru
Dở hay thầy cũng chọn ru khúc này
Lời ru của gió màu mây
Con sông của mẹ đường cày của cha
Bắt đầu cái tuổi lên ba
Thầy ru điệp khúc quê nhà cho em
Yêu rồi cũng nhớ yêu thêm
Tình yêu chẳng có bậc thềm cuối đâu!
Thầy không ru đủ nghìn câu
Biết con chữ cũng đứng sau cuộc đời
Tuổi thơ em có một thời
Ước mơ thì rộng như trời, ngàn năm
Như ru ánh lửa trong hồn
Cái hoa trong lá, cái mầm trong cây
Thầy ru hết cả mê say
Mong cho trọn ước mơ đầy của em.
Mẹ ru em ngủ tròn đêm
Thầy ru khi mặt trời lên mỗi ngày
Trong em hạt chữ xếp dày
Đừng quên mẹ vẫn lo gầy hạt cơm
Từ trong vòm mát ngôi trường
Xin lời ru được dẫn đường em đi
(Con đường thầy ngỡ đôi khi
Tuổi thơ lăn một vòng bi tới rồi!)
Hẳn là thầy cũng già thôi
Hóa thân vào mỗi cuộc đời các em
Thì dù phấn trắng bảng đen
Hành trang ấy đủ thầy đem theo mình
ST: Lắt Tỵ Ca Sổm Sắc
K58 ĐH QTKD








