Chuyên mục chính
Vốn chứng khoán cần được ưu tiên phát triển
Tại hội nghị triển khai nhiệm vụ phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) cuối tuần qua, nhiều thành viên thị trường cho rằng cần xây dựng thể chế đủ mạnh để chứng khoán thực sự cạnh tranh với ngân hàng (NH) và là nơi cung cấp vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế; có các giải pháp về sản phẩm mới để TTCK thu hút hơn nữa NĐT tham gia…
Thị trường chứng khoán cần thể chế đủ mạnh
Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng, hiện nay tổng tín dụng được cấp qua kênh NH khoảng 7,5 triệu tỷ đồng, tương đương 130% GDP. Điều đó cho thấy, nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp dựa rất lớn vào hệ thống NH, trong khi bản chất nhà băng là nơi cung cấp vốn ngắn hạn, đã tạo áp lực rất lớn cho hệ thống NH trong cung ứng vốn dài hạn, cân đối vốn và xử lý nguồn vốn để tránh rủi ro kỳ hạn.
Vì thế, trong thị trường vốn, rất cần phát triển thị trường trái phiếu DN (TPDN). Bình luận về việc năm 2018 HOSE đã cấp quyết định niêm yết chính thức cho 14 TPDN, nâng khối lượng TPDN được đưa vào giao dịch tăng khoảng 70% so với năm 2017, bà Hồng cho rằng đây là điều rất đáng mừng, vì sẽ giảm áp lực cho NHNN trong việc ung ứng vốn trung, dài hạn, từ đó góp phần thúc đẩy thị trường tài chính phát triển lành mạnh.
Là một trong những người đóng góp xây dựng TTCK từ những ngày đầu, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc CTCK SSI, ông Nguyễn Duy Hưng trăn trở về vấn đề làm sao xây dựng các thể chế giúp TTCK có thể cạnh tranh với NH, làm sao để cân bằng giữa thị trường vốn và tiền tệ, trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn.
Để làm được điều đó TTCK phải được NĐT quan tâm. Điều quan trọng, với thị trường là phải minh bạch, với nhà đầu tư (NĐT) phải có niềm tin, có quyền lợi khi tham gia thị trường.
Và để TTCK phát triển song song với NH, phải xây dựng thể chế để cạnh tranh trực tiếp với NH. Quy mô TTCK hiện tại ở mức 3 triệu tỷ đồng, nhưng con số này là vốn hóa thị trường, còn phần tài sản thật thấp hơn rất nhiều. Toàn bộ TPDN hiện khoảng 100.000 tỷ đồng, nhưng chỉ tập trung một số DN như Massan, Vingroup, Hoàng Anh Gia Lai… Và những đối tượng giữ TPDN lại là NH.
Một trong các giải pháp, theo ông Hưng, cần xây dựng các rổ chỉ số linh động hơn, cho phép các định chế tài chính trung gian được tham gia xây dựng chỉ số. Với hàm ý để các tổ chức tự xây dựng chỉ số cung cấp cho NĐT, ông Hưng cho rằng điều này sẽ giúp các chỉ số gắn với thị trường hơn và các sở giao dịch chứng khoán chỉ nên giữ vai trò xét duyệt.
Về NĐT, vấn đề của họ trên TTCK Việt Nam là nhỏ lẻ. Vì vậy cần hướng dòng tiền của họ đến các quỹ đầu tư chỉ số trung gian. Về nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN), ông Hưng nhấn mạnh họ không sợ thua lỗ mà muốn có môi trường đầu tư công bằng và minh bạch; phải làm sao hài hòa được họ.
Trong khi đó, ông Dominic Scriven, Chủ tịch Dragon Capital, cho biết ở các thị trường phát triển, tỷ trọng NĐT tổ chức tham gia chiếm 50-70%, còn lại là NĐT cá nhân. Tuy nhiên, Việt Nam có tình trạng ngược lại. TTCK thiếu các tổ chức, DN tham gia và bị ảnh hưởng bởi quyết định của NĐT cá nhân, đồng thời cũng gây khó khăn cho các NĐT này, khiến thị trường thiếu ổn định.
Xem xét lại khái niệm nhà đầu tư nước ngoài
Theo ông Dominic Scriven, cần xem xét các vấn đề liên quan đến tỷ lệ sở hữu của khối ngoại chiếm 80%, những ý kiến bức xúc của NĐTNN, MSCI với chứng khoán Việt Nam và ảnh hưởng đến việc nâng hạng thị trường.
TTCK vẫn là nơi NĐT mua vào, rút ra nhanh để kiếm tiền, nhưng chưa tạo được niềm tin giúp họ thấy rằng TTCK là nơi đầu tư, giữ tiền, tài sản. Đồng thời các DN hiện nay cũng chưa đồng hành cùng NĐT, coi họ là chủ thực sự mà chỉ coi NĐT là nơi hút tiền để làm việc của DN. Đã có nhiều thương vụ xảy ra khi đi huy động vốn ở nước ngoài, một số NĐT phản ánh việc DN sau khi huy động vốn xong không đồng hành và coi họ là máy ATM, thích rút tiền lúc nào thì rút.
Ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc SSI
Một trong những kiến nghị được ông Dominic Scriven nêu ra là Chính phủ cần xem xét lại Điều 23 của Luật Đầu tư, liên quan đến việc DN Việt Nam có sở hữu nước ngoài trên 51% được xem là DN ngoại. Đây là điều không phù hợp, tạo ra cạnh tranh không công bằng cho các DN. Vì thế, điều khoản này cần phải được sửa đổi phục vụ cho nhu cầu đồng bộ hóa pháp luật Việt Nam.
Về các giải pháp thu hút vốn ngoại khác, ông Dominic Scriven cũng đề xuất có thể cho phép room ngoại tại các tổ chức tín dụng nâng từ 30% lên 49%, trong bối cảnh nhiều NH đang nỗ lực tăng huy động vốn theo Basel II; sớm nghiên cứu và đưa vào loại hình chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết theo mô hình của Thái Lan hoặc Malaysia; thực hiện phương pháp dựng sổ trong việc thoái vốn nhà nước và đẩy mạnh bán vốn nhiều hơn để DN có yếu tố mới trong bộ máy quản trị; giải quyết các vướng mắc còn lại sớm thành lập quỹ hưu trí tự nguyện và mở đường cho loại hình tổ chức khác tham gia thị trường, đồng thời đa dạng sản phẩm đầu tư.
Theo Thời báo Ngân hàng
Thông tin kinh tế Quốc tế tuần từ 18-23/2/2019
| KINH TẾ – TÀI CHÍNH THẾ GIỚI | Nội dung |
| Tăng trưởng – Lạm phát | Tăng trưởng
– Mexico: Ngân hàng Trung ương Mexico (Banxico) cho biết, kinh tế nước này trong năm 2018 chỉ tăng trưởng 2,2% và lạm phát vẫn ở mức cao 4,6%, đồng thời dự báo GDP tăng 2,1% trong năm 2019 với lạm phát giảm xuống còn 3,9%. Trong năm 2018, Banxico đã liên tục tăng lãi suất cơ bản để kiềm chế lạm phát nhưng không đạt được mục tiêu đề ra là 3% +/- 1 điểm phần trăm. Hiện lãi suất cơ bản của Mexico đang ở mức cao kỷ lục 8,25%. (Theo TTXVN ngày 16/02) – Đức: Kinh tế Đức đã tránh được một cuộc suy thoái kỹ thuật trong nửa cuối của năm 2018 khi GDP ghi nhận mức tăng trưởng 0% trong quý IV/2018. Tăng trưởng kinh tế của Đức trong năm 2018 chỉ đạt 1,4%, thấp hơn 0,1% so với dự tính được đưa ra vào tháng 01/2019 và kém xa mức tăng 2,2% của năm 2017 (quý I, II, III và IV tăng trưởng lần lượt 0,4%; 0,5%; 0,2% và 0%). Đây cũng là mức tăng trưởng yếu nhất của nền kinh tế Đức trong 5 năm qua. Nguyên nhân là do doanh số bán ô tô giảm từ tháng 9/2018, hoạt động vận tải nội địa cũng bị chậm lại; xung đột thương mại kéo dài giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc và lo ngại về một Brexit không thỏa thuận. Kinh tế Đức được dự báo tăng trưởng 1% trong năm 2019 và nước này đang phải đối diện với nguy cơ thiếu hụt ngân sách khoảng 25 tỷ EUR vào năm 2023. (Theo Cơ quan Thống kê Liên bang Đức – Destatis ngày 15/02) – Hoa Kỳ: Trong bối cảnh các nguy cơ mang tính toàn cầu gia tăng, đặc biệt các mối quan hệ thương mại quốc tế căng thẳng, nền kinh tế Hoa Kỳ vẫn duy trì sự ổn định; tuy nhiên, GDP trong năm 2019 sẽ sụt giảm phần nào so với mức tăng trưởng rõ rệt trong năm 2018 và Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) chưa thể chắc chắn về các bước đi tiếp theo trong bối cảnh rủi ro thương mại toàn cầu đang gia tăng. (Theo FED ngày 20/02) Lạm phát – Anh: Chỉ số CPI 12 tháng tính đến tháng 01/2019 chỉ đạt 1,8%, giảm so với mức 2,1% tại thời điểm tháng 12/2018, ghi dấu lần đầu tiên giảm xuống dưới mức mục tiêu 2% của Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) kể từ tháng 01/2017, làm cho mục tiêu lạm phát 2% mà BoE đặt ra càng khó đạt được trong bối cảnh giá năng lượng đang giảm. (Theo Cơ quan Thống kê quốc gia Anh – ONS ngày 13/02) |
| Chứng khoán | – Chứng khoán Hoa Kỳ: Trong tuần từ ngày 18 – 23/02/2019, chỉ số Dow Jones; S&P 500 và Nasdaq Composite tăng lần lượt 0,57%; 0,62% và 0,74% so với chốt phiên giao dịch cuối tuần trước (15/02/2019). Đây là tuần tăng thứ 9 liên tiếp của chỉ số Dow Jones và Nasdaq. Trong ngày giao dịch 22/02/2019:
+ Dow Jones tăng 181,18 điểm (+0,70%) lên 26.031,81 điểm. + S&P 500 S&P 500 tăng 17,79 điểm (+0,64%) lên 2.792,67 điểm. + Nasdaq Composite tăng 67,84 điểm (+0,91%) lên 7.527,54 điểm. – Chứng khoán châu Á: Tính chung cả tuần, MSCI châu Á – Thái Bình Dương tăng 2,53 điểm (1,55%). Trong ngày giao dịch cuối tuần (22/02/2018) so với phiên giao dịch hôm trước, các chỉ số: – Nikkei 225 (Nhật Bản) giảm 38,72 điểm (-0,18%) xuống 21.425,51 điểm. – Shanghai Composite (Thượng Hải) tăng 52,43 điểm (+1,91%) lên 2.804,23 điểm. – Hang Seng (Hồng Kông) tăng 186,38 điểm (+0,65%) lên 28.816,30 điểm. |
| Dầu mỏ | Tuần từ ngày 18 – 23/02/2019, giá dầu WTI và Brent tăng lần lượt là 3% và 1,31%. Chốt phiên giao dịch cuối tuần (22/02/2019), giá dầu thô kỳ hạn:
– Dầu WTI của Hoa Kỳ tăng 0,30 USD (+0,52%) lên 57,26 USD/thùng. – Dầu Brent tăng 0,05 USD (+0,07%) lên 67,12 USD/thùng. |
| Châu Âu | – Châu Âu:
+ Châu Âu cần bổ sung hơn 100 tỷ USD cho chi tiêu quốc phòng để đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ tài chính đóng góp cho Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Hiện 27 nước châu Âu là thành viên của NATO không hoàn thành nghĩa vụ tài chính năm 2018 đối với NATO (tức dành 2% GDP cho ngân sách quốc phòng), do đó còn thiếu khoảng 102 tỷ USD. Các nước này “buộc phải tăng chi tiêu quốc phòng thêm 38%” mới có thể hoàn thành mục tiêu nói trên. Tổng chi tiêu quốc phòng của 27 nước châu Âu trong năm 2018 là 250 tỷ USD. (Theo Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế – IISS ngày 15/02) + Nhà sản xuất xe lớn nhất châu Âu Volkswagen cho biết, doanh số bán xe trong tháng 01/2019 đã giảm khoảng 1,8% so với cùng kỳ năm 2018 xuống 882.200 chiếc. Tại Trung Quốc, thị trường lớn nhất của Volkswagen đã giảm 2,9% so với cùng kỳ năm 2018; tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương giảm khoảng 3,1%; tại thị trường Bắc Mỹ và Nam Mỹ cũng giảm lần lượt 5,2% và 4,9%. Tuy nhiên, tại thị trường châu Âu tăng 0,5% và tại thị trường Đức cũng tăng 0,7%. (Theo TTXVN ngày 17/02) – Nga: Tính đến cuối năm 2018 đã có 62 quốc gia trên thế giới áp đặt các biện pháp hạn chế đối với hàng hóa của Nga. Đứng đầu danh sách những nước có số lượng các biện pháp hạn chế đối với sản phẩm có xuất xứ từ Nga là Liên minh châu Âu (25), Ukraine (22), Ấn Độ (16), Belarus (13), Thổ Nhĩ Kỳ (12), Hoa Kỳ (9) và Australia. Tổng thiệt hại Nga phải chịu khoảng 6,3 tỷ USD, trong đó các biện pháp trừng phạt của Liên minh châu Âu (EU) đã gây thiệt hại lớn nhất đối với hàng hóa xuất khẩu của Nga (hơn 2,4 tỷ USD), tiếp đến là Hoa Kỳ (hơn 1,1 tỷ USD), Ukraine (775 triệu USD), Thổ Nhĩ Kỳ (715 triệu USD)… Công nghiệp luyện kim là ngành chịu thiệt hại nặng nề nhất (khoảng 4 tỷ USD) do các biện pháp trừng phạt kinh tế của phương Tây. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, thiệt hại ước tính khoảng 1,1 tỷ USD, hóa chất là 641 triệu USD, ngành công nghiệp ô tô là 306 triệu USD. Trong năm 2018, Bộ Phát triển kinh tế Nga đã loại bỏ và tự do hóa 32 hạn chế thương mại (bao gồm cả đe dọa áp đặt trừng phạt), tác động tiêu cực đến việc tiếp cận hàng hóa của Nga vào thị trường nước ngoài, mà theo ước tính của giới chuyên gia, thiệt hại vượt quá 330 triệu USD. (Theo Bộ Phát triển kinh tế Nga ngày 18/02) – Đức: Năm 2018, Đức ghi nhận mức thặng dư tài khoản vãng lai lớn nhất thế giới với 294 tỷ USD nhờ xuất khẩu tăng mạnh; tiếp đến là Nhật Bản với 173 tỷ USD; trong khi Nga xếp ở vị trí thứ ba với 116 tỷ USD. Tuy nhiên, so với quy mô kinh tế, thặng dư tài khoản vãng lai của Đức trong năm 2018 đã giảm năm thứ ba liên tiếp xuống 7,4% GDP so với mức 7,9% GDP của năm 2017. Kể từ năm 2011, cán cân tài khoản vãng lai của Đức liên tục vượt ngưỡng khuyến nghị 6% GDP của Ủy ban châu Âu (EC) và thặng dư tài khoản vãng lai của nước này từng ghi nhận mức kỷ lục 8,9% GDP trong năm 2015. (Theo Viện Ifo ngày 19/02) – Anh: Fitch cảnh báo có thể hạ mức đánh giá nợ AA của Vương quốc Anh hiện nay, nếu kinh tế nước này bị tác động mạnh bởi tiến trình đàm phán Anh rời EU vẫn không đạt được thỏa thuận. Kịch bản Brexit không thỏa thuận sẽ dẫn tới sự đổ vỡ đối với triển vọng kinh tế, thương mại của Anh trong ngắn hạn. Nếu Anh rời EU mà không đạt được thỏa thuận về thương mại, biên giới và các vấn đề khác, nước này sẽ đối mặt với nguy cơ suy thoái. Tuy nhiên, nếu tránh được kịch bản Brexit không thỏa thuận, dự báo đà tăng trưởng của kinh tế Anh sẽ phục hồi lên 1,6% trong năm 2019 và 1,8% vào năm 2020. (Theo TTXVN ngày 21/02) |
| Châu Á | – Hàn Quốc:
+ Hàn Quốc đặt mục tiêu xuất khẩu các “thành phố thông minh” sau khi hoàn thành xây dựng hai thành phố thử nghiệm. Theo kế hoạch, Chính phủ Hàn Quốc sẽ chi 3.700 tỷ KRW (khoảng 3,3 tỷ USD) để hoàn thành xây dựng thành phố thông minh đầu tiên trước cuối năm 2021. Các công nghệ mới nhất và tiên tiến nhất sẽ được sử dụng để thu thập dữ liệu và cung cấp thông tin giúp điều hành thành phố tốt hơn và cho phép giới chức cũng như cư dân sử dụng thời gian và các nguồn lực một cách hiệu quả hơn. Những người sống ở các thành phố thông minh sẽ tiết kiệm 124 giờ/năm trong việc đi lại, đợi làm các thủ tục hành chính hay chờ xếp hàng tại bệnh viện. (Theo Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in ngày 13/02) + Quy mô thương mại giữa Hàn Quốc và EU trong năm 2018 vượt ngưỡng 100 tỷ EUR. Đây là năm thứ hai liên tiếp vượt ngưỡng 100 tỷ EUR, sau khi đạt 101,8 tỷ EUR vào năm 2017. Trong năm 2018, Hàn Quốc xuất khẩu sang EU số hàng hóa trị giá 51 tỷ EUR, nhập khẩu 49,2 tỷ EUR, tổng quy mô thương mại đạt 100,2 tỷ EUR (Theo Cơ quan Thống kê châu Âu – Eurostat). Quy mô thương mại năm 2018 giảm 1,6% so với năm 2017, trong đó xuất khẩu giảm 1,4% và nhập khẩu giảm 1,8%. Song thặng dư cán cân thương mại đã tăng từ 1,6 tỷ EUR năm 2017 lên 1,9 tỷ EUR do nhập khẩu giảm nhiều hơn xuất khẩu. Hàn Quốc tiếp tục duy trì vị trí đối tác thương mại lớn thứ 8 của EU, sau Hoa Kỳ, Trung Quốc, Thụy Sĩ, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản và Na Uy. (Theo Đài phát thanh và truyền hình Hàn Quốc ngày 19/02) + Hàn Quốc xếp ở vị trí thứ 5 trong 6 nước đi đầu về công nghệ thông minh trên thế giới. Nếu lấy Hoa Kỳ là nước đi đầu về công nghệ làm tiêu chuẩn với 100%, trình độ công nghệ của Đức đạt 93,4% (kém 0,4 năm), Nhật Bản là 79,9% (kém 1,5 năm), EU 79,6% (1,5 năm), Hàn Quốc 72,3% (kém 2,5 năm), Trung Quốc là 66% (kém 3,1 năm). Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng Hàn Quốc (MOTIE) đã tiến hành đánh giá trình độ công nghệ của sáu nước lớn ở bảy lĩnh vực với 25 công nghệ cụ thể, thông qua kết quả điều tra của các chuyên gia và phân tích về bản quyền luận văn nghiên cứu. Hàn Quốc thuộc nhóm đi đầu công nghệ (đạt trên 80% so với tiêu chuẩn tối đa) ở hai lĩnh vực là hệ thống viễn thông và hệ thống vận hành nhà máy. Trong số 25 hạng mục cụ thể, Hàn Quốc sở hữu công nghệ cao nhất ở hạng mục viễn thông Internet. Hoa Kỳ sở hữu công nghệ cao nhất ở sáu lĩnh vực, Đức đứng đầu ở lĩnh vực hệ thống điều khiển. (Theo MOTIEngày 20/02) – Triều Tiên: Trong tháng 12/2018, Nga xuất khẩu gần 6.983 tấn dầu tinh luyện sang Triều Tiên. Đây là lượng dầu tinh luyện xuất khẩu sang Triều Tiên hằng tháng lớn nhất kể từ năm 2017. Trung Quốc cũng đã vận chuyển 1.511 tấn dầu tinh luyện sang Triều Tiên. Như vậy, Nga và Trung Quốc đã vận chuyển tổng cộng 48.441 tấn dầu tinh luyện sang Triều Tiên trong năm 2018. Sau khi Triều Tiên tiến hành một vụ phóng tên lửa tầm xa năm 2017, Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc đã thông qua Nghị quyết số 2397, theo đó đặt mức trần đối với dầu tinh chế được phép xuất khẩu sang Triều Tiên là 500.000 thùng/năm, tương đương khoảng 60.000 – 65.000 tấn. (Theo Liên Hợp quốc ngày 15/02) – Ấn Độ: Một ngày sau khi hủy bỏ quy chế Tối huệ quốc dành cho Pakistan, ngày 16/02, Ấn Độ đã áp thuế nhập khẩu 200% đối với tất cả các hàng hóa bắt nguồn hoặc nhập khẩu từ Pakistan. Quyết định trên của Chính phủ Ấn Độ là một phần của gói biện pháp trả đũa nhằm vào nước láng giềng, sau vụ 49 thành viên Lực lượng cảnh sát dự bị Trung ương Ấn Độ (CRPF) bị thiệt mạng trong vụ tấn công khủng bố ở bang Jammu và Kashmir. Trước đó ngày 15/02, Bộ trưởng Tài chính Ấn Độ Arun Jaitley tuyên bố nước này sẽ rút quy chế Tối huệ quốc dành cho Pakistan với hiệu lực tức thì sau vụ tấn công khủng bố trên. Ấn Độ áp dụng quy chế Tối huệ quốc với tất cả các thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) theo Điều 1 của Hiệp ước chung về thuế quan và thương mại (GATT) năm 1994. (Theo Hãng tin IANS 17/01) – Thái Lan: Tính đến thời điểm nửa cuối tháng 02/2019, đồng THB của Thái Lan đã tăng giá 4% so với đồng USD và sẽ lấy lại vị trí của một trong những đồng tiền tăng giá nhanh nhất châu Á. Nguyên nhân được cho là do những thông tin về tình hình kinh tế khả quan của Thái Lan được công bố ngày 18/02. (Theo TTXVN ngày 20/02) |
| Hoa Kỳ | Ngành chế tạo Hoa Kỳ trong tháng 01/2019 đã giảm 0,9% so với tháng 12/2018, phần lớn do sự sụt giảm trong hoạt động lắp ráp ô tô. Số liệu trên đã kéo sản lượng công nghiệp của Hoa Kỳ giảm 0,6% trong tháng 01/2019, mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 5/2018. (Theo Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ – FED ngày 15/02)
Theo nhà phân tích Ian Shepherdson của Pantheon Macroeconomics, ngành chế tạo Hoa Kỳ đang đứng trước sức ép thực sự đến từ sự giảm tốc của nền kinh tế Trung Quốc và căng thẳng thương mại. Dự kiến sản lượng chế tạo của Hoa Kỳ sẽ suy giảm trong nửa đầu năm 2019, đẩy lĩnh vực này rơi vào tình trạng “suy thoái nhẹ”. |
| Thâm hụt ngân sách nước này trong tháng 12/2018 giảm 40% so với cùng kỳ năm 2017 xuống 13,5 tỷ USD, nhưng thâm hụt trong quý IV/2018 đã tăng 41,8% so với cùng kỳ năm 2017 lên 318,9 tỷ USD. Tổng chi ngân sách trong tháng 12/2018 giảm 4% với cùng kỳ năm 2017, trong khi thu ngân sách giảm 6,6%. Giới phân tích cho rằng chương trình cắt giảm thuế trị giá 1.500 tỷ USD cũng như chi tiêu chính phủ ngày một tăng làm cho thâm hụt ngân sách và nợ công của Hoa Kỳ tăng mạnh. (Theo Bộ Tài chính Hoa Kỳ ngày 13/02) | |
| Nợ công của Hoa Kỳ lần đầu tiên trong lịch sử vượt ngưỡng 22.000 tỷ USD, đạt 22.010 tỷ USD, tương đương GDP của ba nền kinh tế lớn là Trung Quốc, Nhật Bản và Đức cộng lại. Con số này tăng đáng kể so với mức 19.950 tỷ USD vào thời điểm Tổng thống Donald Trump nhậm chức ngày 20/01/2017.
Văn phòng Ngân sách Quốc hội Hoa Kỳ (CBO) cũng cảnh báo quy mô nợ công của Hoa Kỳ có thể chạm mức 100% GDP vào cuối thập kỷ tới và tăng lên 152% GDP vào năm 2048, mức cao nhất trong lịch sử nước này. (Theo Bộ Tài chính Hoa Kỳ ngày 12/02) |
|
| Trung Quốc | Trung Quốc sẽ thu hút lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài trong năm 2019, trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục mở rộng tiếp cận cho doanh nghiệp nước ngoài vào thị trường vốn của nước này. Trong năm 2018, thị trường vốn của Trung Quốc đã tiếp nhận nguồn vốn đầu tư nước ngoài cao kỷ lục 120 tỷ USD.
Dự báo nguồn vốn nước ngoài trị giá 200 tỷ USD sẽ chảy vào thị trường vốn Trung Quốc trong năm 2019. Bên cạnh đó, Báo cáo của Morgan Stanley cho biết, thị trường cổ phiếu loại A của Trung Quốc sẽ thu hút khoảng 70 – 125 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài trong năm 2019, trong khi trái phiếu doanh nghiệp sẽ chứng kiến dòng vốn đổ vào khoảng 300 – 400 tỷ USD trong năm 2030. (Theo Tờ China Securities News ngày 18/02) |
| Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng 15,2 tỷ USD trong tháng 01/2019 lên 3.088 tỷ USD, cao hơn so với mức tăng 11 tỷ USD hồi tháng 12/2018, cũng như vượt mức dự báo 9,3 tỷ USD của giới chuyên gia.
Nguyên nhân là do đồng CNY tăng giá trước những kỳ vọng về tiến triển trong các cuộc đàm phán thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, với mức tăng 2,6% so với đồng USD trong tháng 01/2019. Bên cạnh đó, giá trị dự trữ vàng của Trung Quốc đã tăng từ 76,331 tỷ USD vào cuối tháng 12/2018 lên 79,319 tỷ USD trong tháng 01/2019. (Theo Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc – PboC ngày 12/02) |
|
| Trung Quốc hiện vẫn là nước nắm giữ trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ lớn nhất. Tính đến tháng 12/2018, số lượng trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ mà Trung Quốc nắm giữ là 1,123 nghìn tỷ USD.
Trong tháng trước đó, Trung Quốc sở hữu số lượng trái phiếu trị giá 1,121 nghìn tỷ USD, giảm 17,5 tỷ USD so với tháng 10/2018. Trong khi đó, số lượng trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ mà Nhật Bản nắm giữ đã trị giá 1,042 nghìn tỷ USD trong tháng 12/2018, tăng so với mức 1,036 nghìn tỷ USD hồi tháng 11/2018. Như vậy, tổng cộng cả Nhật Bản và Trung Quốc đang nắm giữ hơn 1/3 tổng số lượng trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ do nước ngoài sở hữu. (Theo Bộ Tài chính Hoa Kỳ 15/02) |
|
| Thị trường ô tô của nước này vẫn ảm đạm trong tháng 01/2019, với doanh số bán giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2018. Doanh số bán ô tô tại thị trường Trung Quốc trong tháng 01/2019 chỉ đạt 2,367 triệu chiếc, giảm 15,8% so với cùng kỳ năm 2018, trong khi sản lượng ô tô đạt 2,365 triệu chiếc, giảm 12,1%.
Doanh số bán xe hơi sẽ tiếp tục xu hướng đi xuống trong tháng 2, chủ yếu do kinh tế chậm lại và nhu cầu suy giảm tại các thành phố nhỏ. Trước đó, Hiệp hội các nhà chế tạo ô tô Trung Quốc (CAAM) dự báo doanh số bán xe tại Trung Quốc sẽ đạt 28 triệu chiếc trong năm 2019, tương đương với con số của năm 2018, trong khi các cơ quan khác và Chính phủ Trung Quốc dự báo doanh số tăng từ 0 – 2%. (Theo CAAM ngày 18/02) |
|
| Venezuela | Venezuela đã thiệt hại trực tiếp khoảng 38 tỷ USD trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa, dịch vụ và khai thác dầu mỏ trong 3 năm qua, do ảnh hưởng từ các biện pháp trừng phạt kinh tế, tài chính của Hoa Kỳ.
Trong đó, Venezuela đã tổn thất 23 tỷ USD GDP và 15 tỷ USD liên quan tới hoạt động của chi nhánh Tập đoàn Dầu khí quốc gia (PDVSA) tại Hoa Kỳ, Citgo. Nếu cộng thêm cả 20 tỷ USD thiệt hại trong vụ phá hoại ngành dầu khí xảy ra năm 2002, Venezuela đã mất gần 60 tỷ USD trong những năm qua. (Theo Phó Tổng thống Venezuela Ricardo Menendez ngày 18/02) |
| Đàm phán – Ký kết | Ấn Độ và Hoa Kỳ
Tập đoàn dầu khí Ấn Độ (IOC) đã ký một thỏa thuận mua 3 triệu tấn dầu thô mỗi năm từ Hoa Kỳ trị giá 1,5 tỷ USD. Đây là lần đầu tiên một công ty dầu khí Ấn Độ nhập dầu thô từ Hoa Kỳ và thỏa thuận sẽ được thực hiện từ đầu năm tài khóa 2019 – 2020 (bắt đầu vào ngày 01/4/2019). Việc Ấn Độ tăng cường mua dầu từ các công ty dầu mỏ Hoa Kỳ diễn ra trong bối cảnh Hoa Kỳ áp dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Iran. Quyết định của Hoa Kỳ làm cho Ấn Độ phải cắt giảm mua dầu từ Iran, đẩy Iran từ vị trí nhà cung cấp dầu lớn thứ ba của Ấn Độ tại thời điểm Hoa Kỳ đưa ra lệnh trừng phạt xuống vị trí thứ 7 tại thời điểm tháng 01/2019. (Theo Hãng thông tấn PTI ngày 18/02) |
Thông tin Kinh tế trong nước tuần từ 18 – 23/2/2019
| KINH TẾ – TÀI CHÍNH VIỆT NAM | Nội dung |
| Tổng cung | |
| Tăng trưởng | Quỹ Di sản – Heritage – vừa công bố báo cáo Chỉ số tự do kinh tế năm 2019, trong đó Việt Nam được tăng 2 điểm so với năm ngoái, đạt 55,3 điểm, xếp hạng thứ 128 trên thế giới. Nguyên nhân của sự gia tăng này là nhờ sức khỏe tài khóa, tự do đầu tư và môi trường pháp lý. Một số chỉ số thành phần được cải thiện như chỉ số tự do kinh doanh tăng 0,3 điểm; chỉ số tự do lao động tăng 2,4 điểm; tuy nhiên chỉ số tự do tiền tệ lại giảm 6,5 điểm.(Theo enternews.vn ngày 21/02) |
| Sản xuất công nghiệp | Tính đến 15 giờ ngày 15/02/2019, Quỹ bình ổn giá xăng dầu của Petrolimex còn 1.720 tỷ đồng, giảm 220 tỷ đồng so với thời điểm điều chỉnh giá xăng dầu trước đó vào ngày 31/01/2019. Sau khi trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu, giá xăng dầu các loại vẫn được giữ nguyên như thời điểm điều chỉnh vào ngày 31/01/2019. Cụ thể: Xăng RON 95-IV là 17.750 đồng/lít; xăng RON 95-III là 17.600 đồng/lít; xăng E5 RON 92 là 16.270 đồng/lít. Dầu diesel tiêu chuẩn euro 5 là 15.100 đồng/lít. Dầu hỏa là 14.180 đồng/lít. |
| Ngày 19/02, làm việc với một số bộ, ngành về tình hình giá gạo giảm so với cùng kỳ năm 2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhất trí với kiến nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Theo đó, Bộ Tài chính tập trung triển khai mua dự trữ quốc gia năm 2019 với số lượng 80.000 tấn thóc và 200.000 tấn gạo, sẵn sàng mua 100.000 tấn tiếp theo để thực hiện Nghị định số 75/2015/NĐ-CP về cơ chế chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 – 2020 và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. (Theo sggp.org.vn ngày 19/02) | |
| Doanh nghiệp | Giá trị thương hiệu của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) đã tăng 64%, từ 381 triệu USD (năm 2018) lên trên 625 triệu USD năm 2019, tăng 68 bậc, lên hạng 242 – thứ hạng cao nhất trong các ngân hàng Việt Nam và đưa VietinBank trở thành ngân hàng Việt Nam đầu tiên, duy nhất lọt vào Top 300 thương hiệu ngân hàng giá trị nhất thế giới theo báo cáo xếp hạng năm 2019 của Brand Finance. VietinBank cũng giữ vững vị trí trong Top 20 ngân hàng thế giới thăng hạng mạnh nhất (xếp thứ 8). Chỉ số sức mạnh thương hiệu của VietinBank được Brand Finance đánh giá tăng từ 67 lên 77,33 trong thang điểm 100, xếp hạng thương hiệu tăng từ AA- (năm 2018) lên AA+. (Theo bnews.vn ngày 18/02) |
| Trong tháng 01/2019, doanh số bán xe ô tô toàn thị trường đạt 33.484 xe, giảm 2% so với tháng 12/2018 và tăng 27% so với tháng 1/2018. Trong đó, doanh số bán xe du lịch đạt 27.396 xe, tăng 14%; xe thương mại đạt 5.755 xe, giảm 41%; xe chuyên dụng đạt 333 xe, giảm 34% so với tháng trước. Theo xuất xứ, doanh số bán xe sản xuất lắp ráp trong nước đạt 18.799 xe, giảm 12%; xe nhập khẩu nguyên chiếc đạt 14.685 xe, tăng 14% so với tháng trước. (Theo Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam – VAMA ngày 20/02) | |
| Bộ Công Thương vừa ban hành khung giá phát điện năm 2019 áp dụng cho đàm phán giá hợp đồng mua bán điện của các nhà máy điện. Cụ thể, đối với nhà máy nhiệt điện than, mức trần của khung giá phát điện (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng, chi phí cảng biển và cơ sở hạ tầng dùng chung) áp dụng cho than nhập khẩu công suất tinh 1×600 MW là 1.896,05 đồng/kWh.
Mức trần của nhà máy điện chuẩn có công suất tinh 2x600MW là 1.677,02 đồng/kWh. Đối với nhà máy thủy điện, mức trần của khung giá điện (chưa bao gồm thuế tài nguyên nước, tiền phí dịch vụ môi trường rừng, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và thuế giá trị gia tăng) là 1.110 đồng/kWh. (Theo Thoibaotaichinh.vn ngày 20/02) |
|
| Năm 2019, Tổng cục Thuế sẽ tiến hành thanh tra thuế 7.157 doanh nghiệp, giảm 70 doanh nghiệp so với chỉ tiêu giao năm 2018 (7.227 doanh nghiệp) và kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế 79.941 cuộc, giảm 1.973 cuộc (81.914 cuộc). Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là có số lượng doanh nghiệp thanh kiểm tra thuế lớn nhất.
Riêng Cục Thuế Hà Nội được giao kế hoạch thanh tra 1.331 doanh nghiệp và 15.303 cuộc kiểm tra. Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thanh tra 1.246 doanh nghiệp và có nhiệm vụ kiểm tra 22.422 cuộc. Một số tỉnh có điều tiết về ngân sách trung ương được giao nhiệm vụ kiểm tra trung bình từ trên 1.000 cuộc đến trên 2.800 cuộc. (Tổng cục Thuế ngày 19/02) |
|
| Cả nước có hơn 9.600 doanh nghiệp hoạt động gia công, nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu. Mặc dù về số lượng, các doanh nghiệp này chỉ chiếm tỷ trọng 11,2% (trên tổng số hơn 85.600 doanh nghiệp xuất – nhập khẩu) nhưng về kim ngạch lại chiếm trên 55,28% kim ngạch nhập khẩu và 64,87% kim ngạch xuất khẩu. Năm 2018, xuất siêu của Việt Nam đạt 7,2 tỷ USD, tuy nhiên lĩnh vực gia công, sản xuất hàng xuất khẩu xuất siêu 65,35 tỷ USD (xuất 222,24 tỷ USD, nhập khẩu 156,89 tỷ USD). (Báo haiquan.vn ngày 20/02 dẫn thông tin từ Tổng cục Hải quan) | |
| Tổng cầu | |
| Đầu tư | Trong nỗ lực triển khai Dự án xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2017 – 2020, trước mắt, Chính phủ sẽ triển khai đầu tư 11 dự án với tổng chiều dài 654 km, đi qua địa phận 13 tỉnh. Tổng mức đầu tư khoảng 118.716 tỷ đồng, trong đó có 3 dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, 8 dự án đầu tư theo hình thức PPP. Giai đoạn này sẽ có gần 5.000 héc-ta đất bị thu hồi, khoảng 3.700 hộ dân phải tái định cư. (Theo saigondautu.com.vn ngày 22/02) |
| Xuất nhập khẩu | Xuất khẩu gạo đầu năm 2019 đã lao dốc mạnh, làm cho giá lúa, gạo ở thị trường nội địa cũng sụt giảm mạnh so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện giá lúa thường chỉ còn 4.300 đồng/kg, giảm khoảng 300 đồng/kg so với trước Tết. Dù bị thương lái ép giá nhưng nông dân bắt buộc bán lúa vì không có nơi cất trữ. Kết thúc năm 2018, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt gần 7 triệu tấn, cao nhất kể từ năm 2016 và tăng gần 400.000 tấn so với năm 2017, tuy nhiên, bước sang năm 2019, xuất khẩu gạo đã quay đầu sụt giảm mạnh. (Báo congthuong.vn ngày 18/02 dẫn thông tin từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam – VFA) |
| Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự báo nhu cầu nhập khẩu gạo của Việt Nam tại các thị trường truyền thống sẽ tăng nhẹ trong quý I/2019. Philippines có nhu cầu nhập khẩu 1 triệu tấn gạo, trong đó có nhiều đơn hàng gạo Việt Nam. Thuế nhập khẩu gạo ở mức 35% nếu có nguồn gốc từ khu vực ASEAN và 50% với các nước ngoài ASEAN. Tuy nhiên, xuất khẩu gạo sang thị trường Trung Quốc sẽ gặp nhiều thách thức do các chính sách tăng thuế đối với mặt hàng gạo, thắt chặt nhập khẩu tiểu ngạch, yêu cầu mới về truy xuất nguồn gốc xuất xứ sản phẩm. (Theo Vov.vn ngày 17/02) | |
| Năm 2019, ngành sản xuất, chế biến tôm đặt mục tiêu giá trị xuất khẩu đạt 4,2 tỷ USD, góp phần giúp kim ngạch xuất khẩu toàn ngành thủy sản đạt mục tiêu 10 tỷ USD và hướng tới mục tiêu đạt 4,5 tỷ USD từ xuất khẩu tôm vào năm 2020. Để đảm bảo mục tiêu này, diện tích nuôi tôm sú được duy trì khoảng 620.000ha, với sản lượng khoảng 330.000 tấn. Sản lượng và giá trị xuất khẩu tôm thẻ chân trắng dự kiến đạt khoảng 530.000 tấn. Năm 2018, xuất khẩu tôm giảm gần 8%, chỉ đạt 3,55 tỷ USD. | |
| Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ tháng 01/2019 khởi sắc với kim ngạch đạt hơn 5,151 tỷ USD, tăng 42,1% so với cùng kỳ 2018. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang Hoa Kỳ gấp 4,7 lần tốc độ bình quân chung cả nước. Trong tháng 1, Việt Nam nhập khẩu 1,076 tỷ USD từ thị trường Hoa Kỳ. Như vậy, tháng 1 Việt Nam xuất siêu hơn 4 tỷ USD sang Hoa Kỳ. (Theo Tổng cục Hải quan ngày 19/02) | |
| Tháng 01/2019, tổng trị giá xuất – nhập khẩu cả nước đạt hơn 43 tỷ USD. Trong đó, trị giá kim ngạch xuất khẩu đạt 22,076 tỷ USD và nhập khẩu đạt 21,26 tỷ USD. Như vậy, cán cân thương mại của cả nước thặng dư 816 triệu USD (trước đó Tổng cục Thống kê ước tính cán cân thương mại tháng 1 thâm hụt khoảng 800 triệu USD). Ước tính, nếu tổng kim ngạch xuất – nhập khẩu của cả nước tăng bình quân 5% trong năm 2019, đến đầu tháng 12/2019, kim ngạch xuất – nhập khẩu của Việt Nam sẽ đạt kỷ lục mới 500 tỷ USD. (Tổng cục Hải quan ngày 18/02) | |
| Năm 2019, tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm gỗ vẫn tiếp tục được duy trì ở mức hai con số và có thể đạt mục tiêu đề ra là 10,5 tỷ USD. Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗ đạt hơn 8,9 tỷ USD (không tính các mặt hàng lâm sản ngoài gỗ), tăng 14,5% so với năm 2017. Nguyên liệu cho chế biến gỗ trong nước đã chiếm 75%. Các doanh nghiệp trong nước chiếm 53% tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗ. (Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam ngày 21/02) | |
| Trong nửa đầu tháng 2, tổng trị giá xuất khẩu cả nước đạt 4,246 tỷ USD, trong khi kim ngạch nhập khẩu đạt 6,332 tỷ USD, đưa giá trị nhập siêu tăng lên mức 2,086 tỷ USD. Lũy kế đến ngày 15/02, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 26,319 tỷ USD, nhập khẩu đạt 27,596 tỷ USD tỷ USD, giá trị nhập siêu gần 1,3 tỷ USD. (Theo Tổng cục Hải quan ngày 21/02) | |
| Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa công bố số liệu mới nhất cho biết, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 01/2019 ước đạt 644 triệu USD, giảm 3,9% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, xuất khẩu cá tra ước đạt 165 triệu USD, giảm 4,4%; tôm các loại ước đạt 260 triệu USD, giảm 2,2%. Đáng chú ý, tại đồng bằng sông Cửu Lon, giá cá tra loại I chững lại ở mức 29.000 – 29.500 đồng/kg. (Theo baohaiquan.vn ngày 21/02) | |
| Cân đối vĩ mô | |
| Giá vàng | Trong tuần qua, giá vàng có 3 ngày tăng giá, 3 ngày giảm giá. Trong phiên giao dịch ngày 23/02 so với ngày 22/02, giá vàng miếng SJC được niêm yết tại một số doanh nghiệp kinh doanh vàng:
– Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn: 36,90 – 37,1 triệu đồng/lượng, tăng 80 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra. – Công ty Doji: 36,97 – 37,09 triệu đồng/lượng, tăng 110 nghìn đồng/lượng ở cả hai chiều. |
| Tỷ giá | Tính chung tuần qua, tỷ giá trung tâm giảm 9 đồng so với tuần trước với 2 ngày tăng giá, 3 ngày giảm giá và 1 ngày không thay đổi. Trong phiên giao dịch ngày 23/02, tỷ giá trung tâm là 22.906 VND/USD, không thay đổi so với tỷ giá ngày 22/02; tỷ giá USD tại một số ngân hàng thương mại tăng nhẹ so với ngày 22/02 như sau:
– Vietcombank và Techcombank: 23.165-23.265 VND/USD, tăng 5 đồng ở cả hai chiều mua và bán. – BIDV: 23.160-23.260 VND/USD, tăng 5 đồng ở mỗi chiều. |
| Tín dụng | Trong tuần 11 – 15/02, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã hút ròng 51.558 tỷ đồng khi có tới 65.354 tỷ đồng OMO đến hạn. Khối lượng OMO lưu hành giảm liên tục từ mức hơn 150 nghìn tỷ đồng về 101 nghìn tỷ đồng. Kênh tín phiếu vẫn không phát sinh giao dịch và duy trì số dư bằng 0. Lãi suất liên ngân hàng giảm ở tất cả các kỳ hạn, lãi suất qua đêm là 4,52%/năm, lãi suất 1 tuần 4,64%. Chênh lệch lãi suất VND -USD có xu hướng thu hẹp nhưng vẫn duy trì ở mức 1,8 – 2%. (Theo Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn ngày 18/02) |
| Thị trường tài sản | |
| Cổ phiếu | Trong tuần từ ngày 18/02 – 22/02/2019:
– VN-Index có 5 ngày tăng điểm. Chốt tuần, VN-Index tăng 1,34 điểm (+0,14%) lên 988,91 điểm. Tổng khối lượng giao dịch bình quân đạt 198,34 triệu đơn vị/ngày, tổng giá trị giao dịch bình quân đạt 4.589,76 triệu đơn vị/ngày. – HNX-Index có 3 ngày tăng điểm và 2 ngày giảm điểm. Chốt tuần, HNX-Index tăng 0,7 điểm (+0,66%) lên 106,82 điểm. Tổng khối lượng giao dịch bình quân đạt 35,39 triệu đơn vị/phiên, tổng giá trị giao dịch bình quân đạt 491,22 triệu đơn vị/ngày. – Upcom-Index có 4 ngày tăng điểm và 1 ngày giảm điểm. Chốt tuần, Upcom-Index tăng nhẹ 0,02 điểm (+0,03%) lên 55,55 điểm. Tổng khối lượng giao dịch bình quân đạt 12,462 triệu đơn vị/ngày, tổng giá trị giao dịch bình quân đạt 258,178 tỷ đồng/ngày. |
| Trong tuần qua, khối ngoại đã bán ròng 17,76 triệu đơn vị (tuần trước mua ròng 37,63 triệu đơn vị). Tuy nhiên, xét về giá trị, họ vẫn mua ròng 45,24 tỷ đồng, giảm mạnh so với giá trị mua ròng của tuần trước (1.875,89 tỷ đồng).
– HOSE: Khối ngoại thực hiện 4 phiên mua ròng và bán ròng duy nhất 1 phiên ngày đầu tuần 18/2. Tổng cộng, khối ngoại đã mua ròng 8,26 triệu đơn vị, giảm 78,54% so với tuần trước. Tổng giá trị mua ròng tương ứng 540,47 tỷ đồng, giảm mạnh hơn 71% so với tuần trước đó (mua ròng 1.867,58 tỷ đồng). – HNX: Khối ngoại thực hiện 5 phiên mua ròng liên tiếp với tổng khối lượng 1,98 triệu đơn vị, tổng giá trị 55,41 tỷ đồng (tuần trước đó đã bán ròng 1,92 triệu đơn vị, tổng giá trị mua ròng 0,36 tỷ đồng). – UPCoM: Khối ngoại mua ròng 3 phiên và bán ròng 2 phiên. Tổng cộng, khối ngoại đã bán ròng gần 28 triệu đơn vị với tổng giá trị tương ứng 550,64 tỷ đồng (tuần trước đó mua ròng 1,09 triệu đơn vị, tổng giá trị mua ròng 7,95 tỷ đồng). |
|
| Bất động sản | Trong năm 2019, Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu phát triển thêm 8 triệu m2 sàn xây dựng nhà ở, nâng tổng diện tích sàn nhà ở trên địa bàn lên 178,25 triệu m2 và diện tích nhà ở bình quân đầu người vào cuối năm 2019 lên 19,81 m2/người. Trong năm 2018, thành phố đã phát triển tăng thêm 11,52 triệu m2 sàn nhà ở, nâng tổng diện tích nhà ở trên địa bàn lên 173,77 triệu m2, diện tích nhà ở bình quân là 19,75 m2/người. (Theo tinnhanhchungkhoan ngày 20/02) |
| Việc phát triển nhà ở xã hội mới đạt được 33% so với mục tiêu phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và cần hơn 12 triệu m2 nhà ở xã hội nữa. Hiện nay, cả nước đã hoàn thành đầu tư xây dựng 198 dự án nhà ở xã hội, với quy mô xây dựng hơn 81.700 căn hộ, tương đương khoảng 4,1 triệu m2.
Trong đó, Chương trình phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị đã hoàn thành 98 dự án, có quy mô hơn 40.700 căn hộ. Chương trình phát triển nhà ở xã hội dành cho công nhân khu công nghiệp có 100 dự án hoàn thành với quy mô hơn 41.000 căn hộ. Nhà ở cho học sinh, sinh viên có 89 dự án nhà hoàn thành, đạt tỷ lệ bình quân 82%. (Theo Bộ Xây dựng ngày 21/02) |
|
| Chính sách | Quyết định 146/QĐ-TTg
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 01/02/2019 phê duyệt Đề án thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát với 3 mục tiêu chính là: Đánh giá kết quả sản xuất – kinh doanh của khu vực kinh tế chưa được quan sát nhằm phản ánh đầy đủ, toàn diện hơn phạm vi, quy mô của nền kinh tế; tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chuyên môn nghiệp vụ thống kê nói chung và nghiệp vụ biên soạn tài khoản quốc gia nói riêng, từng bước tiếp cận các chuẩn mực, thông lệ thống kê quốc tế và góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế. Theo đề án, khu vực kinh tế chưa được quan sát bao gồm: Kinh tế ngầm; kinh tế bất hợp pháp; kinh tế phi chính thức; kinh tế tự sản, tự tiêu của hộ gia đình; hoạt động kinh tế bị bỏ sót. Số liệu kinh tế khu vực này sẽ bắt đầu được đo lường chính thức từ năm 2020. Quyết định có hiệu lực từ ngày có hiệu lực kể từ ngày ký. |
| Nhận định
chuyên gia |
Ông Đàm Thế Thái, Phó Tổng giám đốc Công ty tài chính tiêu dùng HD Saison (infomoney.vnngày 17/02):
Thị trường tài chính tiêu dùng năm 2019 vẫn theo xu hướng tăng trưởng mạnh. Nhu cầu vay tiêu dùng tại Việt Nam còn rất lớn, do độ thâm nhập của các tổ chức tín dụng chưa cao, nhất là ở vùng nông thôn. Tỷ lệ mua hàng trả góp chỉ khoảng 20 – 25%, nên dư địa còn rất lớn. Nhu cầu mua mới và nâng cấp xe máy, điện thoại, điện máy gia dụng, đồ gỗ nội thất… của người dân sẽ tiếp tục tăng mạnh trong nhiều năm nữa, nên đây sẽ vẫn là sản phẩm chủ lực của các công ty tài chính. Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (18/02): Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam năm 2018 đạt kết quả tích cực, dự trữ ngoại hối gia tăng mạnh giúp giải tỏa áp lực với tỷ giá, thị trường tiền tệ ổn đinh, lãi suất huy động các tháng tới có thể được duy trì ổn định ở mức hiện tại, thậm chí có thể giảm. Tuy vậy, các rủi ro từ diễn biến quốc tế vẫn còn và có thể thay đổi cục diện rất nhanh. TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia ngân hàng (21/02): Sức ép lên VND trong năm 2019 không quá lớn, nhờ dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước được củng cố và duy trì ở mức khá. Giá USD nhiều khả năng sẽ giảm nhẹ trong năm 2019 khi Fed giãn thời gian tăng lãi suất. Ngoài ra, cán cân thương mại tiếp tục thặng dư 7,2 tỷ USD trong năm 2018 sẽ tạo thêm dư địa cho ổn định tỷ giá tại Việt Nam. |
Vòng tuần hoàn tín dụng tăng nhanh
Năm 2019, NHNN Việt Nam định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 13%, tín dụng tăng khoảng 14% là hoàn toàn hợp lý, nó vừa dựa trên kết quả tăng trưởng tín dụng trong năm 2018 vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong năm 2019 lấy ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, cũng như các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội của Chính phủ.
Trả lời phỏng vấn Thời báo Ngân hàng về vai trò của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế TP.HCM, ông Tô Duy Lâm – Giám đốc NHNN TP.HCM cho biết: Phân tích đánh giá về khả năng đáp ứng vốn cho nền kinh tế và vai trò của tín dụng đối với phát triển kinh tế – xã hội TP.HCM trong năm 2018, phản ánh trên 4 phương diện sau:
Thứ nhất, tín dụng trên địa bàn TP.HCM tăng trưởng hợp lý (16%), phù hợp với định hướng của NHNN. Đồng thời đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng, DN hoạt động sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực: xuất khẩu, thương mại du lịch và đầu tư, nông nghiệp nông thôn, DNNVV.
Thứ hai, thị trường tiền tệ ổn định, lãi suất, tỷ giá không biến động và ở mức hợp lý phù hợp cung cầu thị trường và theo định hướng điều hành của NHNN, góp phần quan trọng trong việc giữ ổn định vĩ mô, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Thứ ba, tín dụng vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, chiếm khoảng 75% tổng dư nợ. Trong đó tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực kinh tế phát triển, có xu hướng tăng trưởng tốt như: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; Ngành xây dựng; Ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động có khác…
Thứ tư, chất lượng tín dụng cải thiện hơn so với những năm trước đây, tính đến cuối năm 2018 tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn còn 2,9% trong tổng dư nợ.
Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2018 thấp hơn so với mọi năm có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của người dân và doanh nghiệp, thưa ông?
Như đã nói ở trên tín dụng đã và đang dần ổn định và tập trung vào sản xuất kinh doanh theo đúng định hướng của NHNN. Tuy nhiên về mặt chỉ số cụ thể tín dụng trong hai năm gần đây đều tăng thấp hơn so với định hướng đề ra, như năm 2018 đầu năm NHNN định hướng toàn hệ thống tăng 17% nhưng đến cuối năm tăng gần 14%.
Ở góc nhìn quản lý đây là xu hướng tích cực xuất phát từ hai yếu tố chính, vốn tín dụng cùng với các nguồn vốn khác trong nền kinh tế, như vốn qua thị trường chứng khoán, vốn của doanh nghiệp, vốn cá nhân, vốn ngân sách… vừa qua đã được khai thác và sử dụng hiệu quả, điều này đã giảm áp lực lên vốn tín dụng ngân hàng.
Song, vốn tín dụng ngân hàng đã chuyển dịch theo ngành, lĩnh vực kinh tế, phù hợp với xu hướng tăng trưởng kinh tế thành phố. Đồng thời mở rộng tín dụng vào các ngành chế biến và chế tạo, dịch vụ… đây là những ngành có động lực cho tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới. Trong đó, một điểm đáng lưu ý là vòng tuần hoàn tín dụng trong năm qua đã nhanh hơn các năm trước đó.
Theo thống kê của các NHTM, tín dụng trong năm 2018 tăng thấp nhưng doanh số cho vay của các NHTM lại tăng cao. Ví dụ, một đồng vốn cho vay ra của BIDV năm 2017 quay được 3 vòng thì năm 2018 cũng một đồng vốn cho vay ra đã quay được 4 vòng, điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn tín dụng đang tăng lên.
Năm 2019, NHNN Việt Nam định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 13%, tín dụng tăng khoảng 14%, ông đánh giá như thế nào?
Chỉ số này theo tôi hoàn toàn hợp lý, nó vừa dựa trên kết quả tăng trưởng tín dụng trong năm 2018 vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong năm 2019 lấy ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, cũng như các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội của Chính phủ. Đặc biệt là các giải pháp về củng cố xây dựng nền tảng vững chắc ổn định kinh tế vĩ mô.
Xin cảm ơn ông!
Theo Thời báo Ngân hàng
Thông tin kinh tế Quốc tế tuần từ 11 – 16/2/2019
IMF đã dùng thuật ngữ “4 đám mây đen lớn” để mô tả các yếu tố chính làm suy yếu tăng trưởng kinh tế toàn cầu, đồng thời cảnh báo có thể xuất hiện một cơn bão kinh tế.
| KINH TẾ – TÀI CHÍNH THẾ GIỚI | Nội dung |
| Tăng trưởng – Lạm phát | – Eurozone: Ngày 07/02, Ủy ban châu Âu (EC), cơ quan hành pháp của Liên minh châu Âu (EU) đã hạ dự báo tốc độ tăng trưởng trong năm 2019 của Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) giảm sâu do kinh tế Đức suy giảm ngoài dự đoán và các cuộc biểu tình tại Pháp đã tác động đến nền kinh tế ở châu Âu.
+ Tốc độ tăng trưởng GDP của Eurozone đạt 1,3%, thấp hơn nhiều so với mức dự đoán 1,9% đưa ra hồi tháng 11/2018. + GDP của Italy chỉ tăng trưởng 0,2%, giảm mạnh so với mức 1% đạt được trong năm 2018, cũng như thấp hơn nhiều so với mức dự báo 1,2% được EC đưa ra hồi tháng 11/2018. Năm 2020, nền kinh tế Italy có thể tăng trưởng 0,8%, thấp hơn so với dự báo 1,3% đưa ra trước đó. – Indonesia: Tính riêng trong quý IV/2018, nền kinh tế Indonesia tăng 5,18%, đưa tốc độ tăng trưởng cả năm 2018 đạt 5,17%. Đây là mức cao nhất trong 5 năm qua, chủ yếu nhờ vào tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư và chi tiêu của chính phủ, trong đó tiêu dùng hộ gia đình đóng góp 2,74% (tăng 5,05%); đầu tư 2,17% (tăng 6,67%) và chi tiêu chính phủ 0,38% (tăng 4,3%). (Theo Cơ quan Thống kê Trung ương Indonesia ngày 08/02) |
| Sản xuất công nghiệp | Hiệp hội Thép Thế giới cho biết, tổng sản lượng thép thô trên toàn thế giới đạt 1,88 tỷ tấn trong năm 2018, tăng 4,6% so với năm 2017. Trong đó Trung Quốc vẫn tiếp tục đứng đầu, đạt 928,3 triệu tấn (tăng 6,6%) và chiếm tỷ trọng 51,3% tổng sản lượng thép toàn cầu, tăng nhẹ so với con số 50,3% của năm 2017.
Xếp sau Trung Quốc lần lượt là Ấn Độ (106,5 triệu tấn), Nhật Bản (104,23 triệu tấn), Hoa Kỳ (86,7 triệu tấn), Hàn Quốc (72,5 triệu tấn). Trong vài năm trở lại đây, ngành công nghiệp thép thế giới luôn trong tình trạng dư thừa nguồn cung do năng lực sản xuất vượt quá nhu cầu. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) dự báo giai đoạn 2018 – 2020, công suất thép toàn cầu sẽ tăng thêm 52 triệu tấn do sẽ có nhiều quốc gia mở rộng năng lực sản xuất. (Theo Hãng Thông tấn Yonhap ngày 04/01) |
| Chứng khoán | – Chứng khoán Hoa Kỳ: Trong tuần từ ngày 11 – 16/02/2019, chỉ số Dow Jones; S&P 500 và Nasdaq Composite tăng lần lượt 3,09%; 2,50% và 2,51% so với chốt phiên giao dịch cuối tuần trước (08/01/2019). Trong ngày giao dịch 15/02/2019:
+ Dow Jones tăng 339,98 điểm (+1,33%) lên 25.883,25 điểm. + S&P 500 S&P 500 tăng 29,87 điểm (+1,09%) lên 2.775,60 điểm. + Nasdaq Composite tăng 45,46 điểm (+0,61%) lên 7.472,41 điểm. – Chứng khoán châu Á: Tính chung cả tuần, MSCI châu Á – Thái Bình Dương tăng 0,72 điểm (0,47%). Trong ngày giao dịch cuối tuần (15/02/2018) so với phiên giao dịch hôm trước, các chỉ số: – Nikkei 225 (Nhật Bản) giảm 239,08 điểm (-1,13%) xuống 20.900,63 điểm. – Shanghai Composite (Thượng Hải) giảm 37,31 điểm (-1,37%) xuống 2.682,38 điểm. – Hang Seng (Hồng Kông) giảm 531,21 điểm (-1,87%) xuống 26.900,84 điểm. |
| Dầu mỏ | Sản lượng dầu mỏ của Nga trong tháng 01/2019 đã giảm xuống còn 11,38 triệu thùng/ngày, thấp hơn mức 11,45 triệu thùng/ngày của tháng 12/2018 – mức cao kỷ lục tính theo tháng. Con số này giảm khoảng 35.000 thùng mỗi ngày so với mức của tháng 10/2018 (mốc tính theo thỏa thuận toàn cầu).
Như vậy, mức cắt giảm này không đạt được mục tiêu mà thỏa thuận của các nước sản xuất dầu mỏ chủ chốt đã đặt ra. Bên cạnh đó, xuất khẩu dầu qua hệ thống đường ống dẫn dầu của Nga giảm xuống 4,313 triệu thùng/ngày trong tháng 01/2019, so với mức 4,496 triệu thùng/ngày trong tháng 12/2018. (Theo Bộ Năng lượng Nga ngày 03/02) |
| Tuần từ ngày 11 – 15/02/2019, giá dầu WTI và Brent tăng lần lượt là 5,44% và 6,68%. Chốt phiên giao dịch cuối tuần (25/01/2019), giá dầu thô kỳ hạn:
– Dầu WTI của Hoa Kỳ tăng 1,18 USD (+2,12%) lên 55,59 USD/thùng. – Dầu Brent tăng 1,68 USD (+2,54%) lên 66,25 USD/thùng. |
|
| Châu Âu | – Hà Lan: Trong năm 2018, có 42 công ty đã chuyển hoặc cho biết sẽ chuyển các hoạt động của mình từ nước Anh sang Hà Lan do những bất ổn liên quan đến Brexit. Điều này đồng nghĩa với việc dịch chuyển gần 2.000 việc làm và 291 triệu EUR (330 triệu USD) vốn đầu tư. Phần lớn các công ty này là của nước Anh, nhưng cũng có một số công ty đến từ châu Á và Hoa Kỳ.
Nhiều công ty cũng đang xem xét chuyển hoạt động sang các nước khác trong Liên minh châu Âu (EU) như Đức, Pháp và Ireland. Bên cạnh các công ty và tập đoàn, Cơ quan Y tế châu Âu (EMA) cũng cho biết sẽ chuyển từ Anh sang Hà Lan vì theo luật, cơ quan này không thể hoạt động ở một nước không phải là thành viên của EU. (Theo Cơ quan quản lý đầu tư nước ngoài của Hà Lan ngày 09/02) – Anh: Nền kinh tế nước này trong năm 2018 tăng trưởng ở mức thấp nhất trong vòng 6 năm qua khi GDP chỉ đạt 1,4%, giảm so với mức 1,8% trong năm 2017, trong khi tăng trưởng GDP trong quý IV/2018 chỉ đạt 0,2%. Tốc độ tăng GDP đã chậm lại rõ rệt trong 3 tháng cuối năm 2018, trong đó riêng tháng 12 giảm 0,4%. Đây là lần đầu tiên kể từ tháng 9/2012, tăng trưởng trong các lĩnh vực xây dựng, sản xuất và dịch vụ giảm trong tháng cuối cùng của năm. Báo cáo của Văn phòng Thống kê quốc gia Anh (ONS) được công bố trong bối cảnh tiến trình Brexit vẫn chưa rõ ràng và tăng trưởng kinh tế toàn cầu yếu hơn. (Theo ONS ngày 11/02) – Đức: Brexit không đạt được thỏa thuận có thể làm cho 600.000 người trên thế giới mất việc làm, trong đó Đức chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Trong trường hợp nhập khẩu của Anh từ các nước còn lại trong EU giảm 25% sau Brexit, khoảng 180.000 việc làm tại các công ty ở 27 nước EU xuất khẩu trực tiếp sang Anh có nguy cơ bị đe dọa. Trong khi đó, 433.000 việc làm ở các công ty tại EU và trên thế giới cũng có thể bị ảnh hưởng do sản phẩm của các công ty này được bán cho các công ty xuất khẩu trực tiếp sang Anh. (Theo Viện nghiên cứu IWH hàng đầu của Đức ngày 11/02) – Nga: Nga đã tuyên bố kế hoạch chi trên 25.700 tỷ ruble (tương đương 391 tỷ USD) cho các dự án thuộc nhiều lĩnh vực phát triển chiến lược trong giai đoạn 2019 – 2024, nhằm đảm bảo sự phát triển đột phá về kinh tế – xã hội, khoa học – công nghệ, nâng cao điều kiện sống của người dân, tạo ra các cơ hội và điều kiện cho sự phát triển tài năng và thể hiện khả năng của mỗi cá nhân. Trong khoản chi trên, khoảng 13.200 tỷ ruble sẽ được trích ra từ ngân sách liên bang, 4.900 tỷ ruble lấy từ ngân sách địa phương, 7.500 tỷ ruble từ các nguồn vốn ngoài ngân sách bổ sung. Chính phủ Nga dự định sử dụng 10.100 tỷ ruble (153,8 tỷ USD) trong 25.700 tỷ ruble trên để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thông qua các dự án khác nhau, cũng như một kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng toàn diện. Ngoài ra, 9.900 tỷ ruble sẽ được dùng để tạo ra một môi trường sống tiện lợi cho người dân, bao gồm hệ thống đường sá, nhà ở và môi trường đô thị an toàn và chất lượng cao, cùng với các dự án sinh thái và sẽ dành khoảng 5.700 tỷ ruble để đầu tư vào các lĩnh vực y tế, giáo dục và văn hóa. (Theo Chính phủ Nga ngày 11/02) |
| Châu Á | – Ai Cập:
+ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nhất trí giải ngân khoản vay thứ 5 trị giá 2 tỷ USD cho Ai Cập trong thời gian tới. Chương trình cho vay đối với Ai Cập được hai bên ký kết vào tháng 11/2016. Với khoản cho vay tiếp theo này, Ai Cập sẽ nhận tổng cộng 10 tỷ USD trong khoản cho vay cam kết 12 tỷ USD từ IMF. (Theo Bộ trưởng Tài chính Ai Cập Mohamed Maait ngày 04/02) + Ngân hàng Trung ương (CBE) của Ai Cập dự kiến sẽ bắt đầu sản xuất và lưu hành đồng bảng Ai Cập bằng chất liệu polymer vào năm 2020. Theo kế hoạch, CBE sẽ từng bước đưa vào lưu thông một số loại tiền bằng chất liệu polymer, với mệnh giá ban đầu 10 bảng Ai Cập nhằm thử nghiệm mức độ chấp nhận trên thị trường tiền tệ trong dài hạn. Nhiều chuyên gia kinh tế kỳ vọng việc Ai Cập chuyển đổi sang sử dụng đồng nội tệ bằng chất liệu polymer sẽ có tác động tích cực tới nền kinh tế nước này. Hiện có hơn 30 quốc gia trên thế giới sử dụng tiền polymer. (Theo Truyền thông Ai Cập ngày 08/02) – Philippines: Bộ Thương mại và Công nghiệp Philippines (DTI) đã thông báo về việc áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời đối với sản phẩm xi-măng nhập khẩu vào quốc gia này, trong bối cảnh lượng nhập khẩu xi-măng gia tăng đột biến là nguyên nhân gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước trong thời kỳ điều tra. DTI áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời 8,40 PHP/túi 40kg, tương đương 210 PHP/tấn (khoảng 4 USD/tấn). Lượng thuế tự vệ này được xác định trên cơ sở cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan, đặc biệt là đảm bảo lượng cung duy trì ổn định và giá bán không tăng. Biện pháp tự vệ tạm thời này sẽ có hiệu lực trong 200 ngày dưới hình thức tiền ký quỹ đối với xi măng nhập khẩu với sản phẩm bị điều tra là xi măng có mã HS: 2523.2990 và 2523.9000; thời kỳ điều tra để xem xét lượng tăng nhập khẩu, thiệt hại trong giai đoạn 2013 – 2017. (Theo Thương vụ Việt Nam tại Philippines ngày 06/02) – Indonesia: Thâm hụt ngân sách năm 2018 của Indonesia đạt khoảng 1,72% GDP, thấp hơn mức dự tính ban đầu của chính phủ nước này là 2,19% GDP. Đây cũng là mức thâm hụt ngân sách trên GDP thấp nhất kể từ năm 2012. Trong năm 2018, Indonesia lần đầu tiên (kể từ năm 2011) đạt thặng dư ngân sách cơ bản 4.100 tỷ rupiah (khoảng 283,25 triệu USD). (Theo Cơ quan Thống kê Trung ương Indonesia ngày 08/02) – Các quốc gia Ả-rập: Nợ công tại các quốc gia Ả-rập đã tăng nhanh kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, do thâm hụt ngân sách liên tục ở mức cao. Nợ công ở các nước này đã tăng từ 64 – 85% GDP trong thập kỷ tính từ năm 2008. Nợ công tại các nước xuất khẩu dầu mỏ – bao gồm cả sáu quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh, tăng từ 13% lên 33% GDP, do giá dầu mỏ 5 năm trước giảm mạnh. (Theo IMF ngày 09/02) – Hàn Quốc: + Ngày 09/02, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã ra phán quyết cho phép Hàn Quốc áp thuế trả đũa gần 85 triệu USD/năm với những mặt hàng nhập khẩu từ Hoa Kỳ, nhằm đáp trả lại các biện pháp mà nước này áp dụng với mặt hàng máy giặt nhập khẩu từ Hàn Quốc. Tranh chấp giữa hai nước bắt đầu vào năm 2012, khi Hoa Kỳ áp thuế chống bán phá giá 9,29% với máy giặt của công ty điện tử Samsung và 13% với máy giặt thương hiệu LG của Hàn Quốc. Vào tháng 8/2013, Hàn Quốc khởi kiện lên WTO. Đến tháng 01/2018, Hàn Quốc đã trình WTO đề nghị phê chuẩn áp thuế trả đũa 711 triệu USD/năm với hàng nhập khẩu từ Hoa Kỳ. + Hàn Quốc đang nỗ lực giảm sự phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, thay vào đó là làm đa dạng các thị trường xuất khẩu, nhất là tại khu vực Đông Nam Á. Hoạt động xuất khẩu của Hàn Quốc sang các quốc gia thành viên Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), trong đó có Việt Nam, đã tăng từ 10,4% trong năm 2007 lên 16,6% vào năm 2018, nhờ doanh số bán các sản phẩm bán dẫn, màn hình và hàng hóa tiêu dùng của nước này tăng mạnh. Hàn Quốc đề ra mục tiêu nâng kim ngạch thương mại với ASEAN lên trên 200 tỷ USD vào năm 2020. (Theo Bộ Công nghiệp, Thương mại và Năng lượng Hàn Quốc ngày 11/01) |
| Hoa Kỳ | Tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ trong tháng 01/2019 đã tăng lên 4%, mức cao nhất trong 7 tháng qua, do trong 5 tuần trước đó, khi một phần Chính phủ Hoa Kỳ bị tê liệt không thể hoạt động do chưa thông qua ngân sách, làm cho 800.000 nhân viên chính phủ nghỉ việc và khoảng 500.000 người phải làm công việc bán thời gian.
Tuy nhiên, trong tháng 1 cũng có thêm 304.000 việc làm đã được tạo ra trên thị trường lao động Hoa Kỳ, mức cao nhất trong gần 1 năm qua và tăng gấp đôi so với dự đoán của các nhà kinh tế. Trong đó, số việc làm trong ngành giải trí và dịch vụ tăng khoảng 74.000 việc làm, với các nhà hàng và quán bar cung cấp thêm 32.000 việc làm trong khi ngành xây dựng thêm 52.000 việc làm và các trung tâm chăm sóc y tế bổ sung thêm 41.000 việc làm mới. Đây là dấu hiệu cho thấy thị trường lao động Hoa Kỳ vẫn là nguồn tăng trưởng cơ bản mặc dù nền kinh tế Hoa Kỳ được dự báo suy giảm trong năm 2019. (Theo Bộ Lao động Hoa Kỳ ngày 01/02) |
| Chỉ số các nhà quản lý mua hàng (PMI) của Hoa Kỳ trong tháng 01/2019 đã được cải thiện nhờ sản lượng và số đơn hàng mới tăng nhanh hơn. Chỉ số PMI tháng 01/2019 của Hoa Kỳ đạt 54,9 điểm, tăng so với 53,8 điểm ghi nhận được trong tháng 12/2018, cho thấy sự cải thiện trong thể trạng chung của lĩnh vực sản xuất. (Theo Công ty nghiên cứu thị trường IHS Markit ngày 01/02) | |
| Trong tháng 12/2018, các khoản vay tiêu dùng tại nước này tăng 16,6 tỷ USD, thấp hơn mức tăng 22,4 tỷ USD trong tháng 11/2018. Tuy nhiên, đà tăng trong tháng cuối năm vẫn giúp nâng tổng khoản vay tiêu dùng lên mức kỷ lục 4.010 tỷ USD.
Mức chi thông qua thẻ tín dụng tăng 1,7 tỷ USD, giảm so với mức tăng tương ứng 4,8 tỷ USD của tháng 11/2018, trong khi khoản vay mua xe và khoản vay của sinh viên tăng 14,8 tỷ USD. Các nhà phân tích dự báo các khoản vay tiêu dùng sẽ tăng cao hơn, nhờ tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp và thu nhập tăng ổn định. Hiện chi tiêu tiêu dùng đang đóng góp 70% hoạt động của kinh tế Hoa Kỳ. (Theo Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ ngày 08/02) |
|
| Trung Quốc | Ngày 01/02, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) đã bơm tiền vào thị trường trị giá 80 tỷ CNY (khoảng 11,94 tỷ USD) cho các thỏa thuận mua lại đảo ngược ở mức lãi suất 2,7% để duy trì tính thanh khoản trong hệ thống ngân hàng.
Toàn bộ các mức lãi suất chính đều tiếp tục giảm trong ngày 01/02, với kỳ hạn dao động từ lãi suất qua đêm đến một năm. Lãi suất qua đêm của liên ngân hàng Thượng Hải (Shibor) giảm 13,8 điểm cơ bản xuống 2,1% so với ngày giao dịch trước đó, trong khi lãi suất 14 ngày là 2,843%, giảm 13,6 điểm cơ bản. |
| Ngành công nghiệp dầu mỏ và hóa dầu của Trung Quốc đã tăng trưởng 32,1% trong năm 2018, cao hơn mức tăng trung bình 10,3% của các doanh nghiệp công nghiệp chủ chốt của nước này. Sản lượng của ngành công nghiệp dầu mỏ và hóa dầu Trung Quốc tăng đều đặn trong năm 2018 cho thấy sự tiến triển tương đối tốt trong việc đạt được những kết quả tích cực nhờ chi phí hoạt động tiếp tục giảm và nhu cầu ổn định của thị trường.
Tổng lợi nhuận của ngành công nghiệp dầu mỏ và hóa dầu Trung Quốc đã đạt 839,38 tỷ CNY (khoảng 125 tỷ USD), chiếm 12,7% tổng lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp chủ chốt của nước này. Tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành công nghiệp dầu mỏ và hóa dầu Trung Quốc đạt 701,87 tỷ CNY trong năm 2018, tăng 22% so với năm 2017. Xuất khẩu các hóa chất đặc biệt, vật liệu tổng hợp và vật liệu hóa chất hữu cơ tăng lần lượt 19,7%, 17,2% và 21,6%. Trong khi đó, đầu tư của ngành công nghiệp dầu mỏ và hóa dầu Trung Quốc cũng tăng 6%. (Theo Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin Trung Quốc ngày 09/02) |
|
|
Nhật Bản |
Hiệp định thương mại tự do (FTA) EU – Nhật Bản chính thức có hiệu lực từ đêm ngày 31/01 được kỳ vọng sẽ đóng vai trò là đầu tàu tăng trưởng cho kinh tế Nhật Bản. Để tối ưu hóa lợi ích kinh tế, Nhật Bản sẽ thực hiện các biện pháp nhằm khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư ra nước ngoài, cũng như thúc đẩy nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp.
Thỏa thuận sẽ giúp người tiêu dùng có thêm lựa chọn và mua sắm rẻ hơn, đồng thời giúp bảo vệ các sản phẩm châu Âu chất lượng cao tại Nhật Bản và ngược lại. Chính phủ Nhật Bản ước tính thỏa thuận với EU sẽ mang lại lợi ích kinh tế vào khoảng 5.200 tỷ JPY (tương đương 48 tỷ USD) và tạo ra 290.000 việc làm. (Theo Chính phủ Nhật Bản ngày 01/02) |
| Venezuela | Venezuela đang triển khai một hệ thống thanh toán theo hình thức như hàng đổi hàng với Ấn Độ nhằm thúc đẩy việc xuất khẩu dầu khí vào quốc gia tiêu thụ dầu mỏ lớn thứ 3 thế giới. Chính phủ của Tổng thống Nicolas Maduro đang tìm các cơ chế thanh toán thay thế sau khi Chính phủ Hoa Kỳ siết chặt các lệnh trừng phạt đối với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Venezuela (PDVSA) nhằm hạn chế hoạt động xuất khẩu dầu thô của Caracas sang Washington.
Sản lượng dầu thô của Venezuela đã giảm mạnh trong suốt hai thập kỷ qua, từ hơn 3 triệu thùng/ngày vào những năm 2000 – 2001 xuống còn 1,2 – 1,4 triệu thùng/ngày vào cuối năm 2018. Phần lớn dầu thô của Venezuela sản xuất hiện nay là dầu nặng hoặc siêu nặng. (Theo Bộ trưởng Dầu mỏ Venezuela, Manuel Quevedo ngày 11/02) |
| Đàm phán – Ký kết | Bolivia và Trung Quốc
Theo Tập đoàn mỏ lithium nhà nước Bolivia YLB ngày 10/02, YLB và TBEA – Baocheng của Trung Quốc đã ký kết thỏa thuận sơ bộ để đầu tư xây dựng 8 nhà máy khai thác và sản xuất lithium tại các mỏ muối ở vùng Andes của Bolivia. Theo đó, hai bên đã nhất trí thành lập công ty liên doanh với kế hoạch dự định đầu tư gần 2,4 tỷ USD để công nghiệp hóa ngành sản xuất lithium, cùng nhiều khoáng sản khác. Dự kiến YLB và TBEA- Baocheng sẽ thực hiện nghiên cứu cần thiết để xây dựng 5 nhà máy sản xuất kali sunfat, lithium hydroxide, axit boric, bromine và natri bromide tại mỏ Coipasa, bang Oruco, với tổng mức đầu tư trên 1,3 tỷ USD. Công trình này cần 4 – 5 năm để thực hiện. Theo ước tính đến năm 2025, Trung Quốc cần 800.000 tấn lithium mỗi năm. Trong khi đó, Bolivia có trữ lượng lithium lớn nhất thế giới với khoảng 9 triệu tấn dạng muối, chủ yếu tập trung tại Uyuni. |
| Nhận định chuyên gia | IMF ngày 10/02:
Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế thế giới thấp hơn dự kiến, IMF ngày 10/02 đã cảnh báo Chính phủ các nước cần chuẩn bị đối phó với cơn bão kinh tế có thể xảy ra bất cứ lúc nào. IMF đã dùng thuật ngữ “4 đám mây đen lớn” để mô tả các yếu tố chính làm suy yếu tăng trưởng kinh tế toàn cầu, đồng thời cảnh báo có thể xuất hiện một cơn bão kinh tế. Những rủi ro bao gồm: Căng thẳng thương mại và vấn đề thuế quan leo thang; chính sách thắt lưng buộc bụng về tài chính; tính không xác định liên quan đến hậu quả của Brexit và sự mở rộng của nó; tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chậm lại. Trong bản báo cáo công bố vào tháng 01/2019, IMF dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2020 giảm từ 3,7% xuống còn 3,5%. |
Theo Trung tâm Thông tin và Dịch vụ Tài chính
Thông tin Kinh tế trong nước tuần từ 11 – 16/2/2019
Việt Nam cần phát huy lợi thế từ một nền kinh tế tăng trưởng nhanh cùng với những chính sách hỗ trợ phát triển của Chính phủ để có thể hội nhập sâu hơn nữa vào khu vực và tận dụng được nhiều lợi ích đến từ cơ hội toàn cầu hóa.
| KINH TẾ – TÀI CHÍNH VIỆT NAM | Nội dung |
| Tổng cung | |
| Tăng trưởng | Bizlive.vn ngày 11/02 dẫn báo cáo của Công ty Chứng khoán BIDV (BSC) dự báo một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô năm 2019 như sau: CPI tăng trở lại mức 4% do. Nợ công và nợ chính phủ nhiều khả năng sẽ chững lại, do GDP tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng và Chính phủ tích cực thực hiện các hoạt động thoái vốn doanh nghiệp nhà nước làm giảm thiểu áp lực tài chính. Tín dụng tăng trưởng 14% trong khi kim ngạch xuất khẩu đạt 273,25 tỷ USD (tăng 12,5%) và nhập khẩu đạt 265.58 tỷ (tăng 13%). GDP năm 2019 sẽ đạt tốc độ tăng trưởng 6,7%, giảm nhẹ so với 2018. |
| Sản xuất công nghiệp | Trong năm 2019, ngành trồng trọt phấn đấu đạt đạt 1 triệu ha cây ăn quả, đưa giá trị xuất khẩu rau quả đạt khoảng 4,2 tỷ USD, từng bước hạn chế sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc đối với một số mặt hàng trái cây tươi. Giá trị xuất khẩu rau quả năm 2018 đạt 3,8 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2017. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam với trên 73% thị phần. (Theo Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 05/02) |
| Theo tính toán từ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), chi phí sản xuất điện từ than sẽ đội thêm khoảng 5.500 tỷ đồng trong năm 2019, do giá than đã được điều chỉnh tăng (từ đầu tháng 1/2019) của Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản và Tổng công ty Đông Bắc cũng như giá than trộn (giữa than nhập khẩu và than sản xuất trong nước).
EVN đề nghị Thủ tướng xem xét cho phép các nhà máy điện được điều chỉnh giá bán điện trong hợp đồng mua bán điện và tham gia thị trường điện do sử dụng than trộn và được tính toán cập nhật vào giá điện bình quân trong năm 2019. (Theo Báo Đầu tư ngày 13/02) |
|
| Dịch vụ | Trong tuần (ngày 02/02 đến 06/02)ến mùng 2 Tết), tổng số khách du lịch đến Hà Nội đạt 272.788 lượt, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách quốc tế đến Hà Nội ước đạt 81.628 lượt khách, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế lưu trú ước đạt 57.303 lượt, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước; khách du lịch nội địa đến Hà Nội ước đạt 191.160 lượt, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước. Tổng thu từ khách du lịch ước đạt 1.056 tỷ đồng, tăng 33,8% so với cùng kỳ năm 2018. (Theo Sở Du lịch Hà Nội ngày 08/02) |
| Doanh nghiệp | Tính đến hết ngày 31/01/2019, đã có 672 doanh nghiệp công bố báo cáo tài chính quý IV/2018 (chiếm 88,4% vốn hóa trên 3 sàn HoSE, HNX, Upcom). Theo đó, tổng lợi nhuận ròng cả năm 2018 của doanh nghiệp đạt khoảng 243.000 tỷ đồng, tăng trưởng 18% so với năm 2017. Tuy nhiên, nếu loại trừ lợi nhuận đột biến của VHM (tăng gần 13.000 tỷ đồng lợi nhuận) tốc độ tăng trưởng chỉ là 11,8%.
Tỷ lệ ROE chung toàn thị trường đạt 14%, giảm so với 14,5% của năm 2017; trong khi đó ROA tăng từ 2,5% lên 2,7%. Có 557/672 doanh nghiệp báo lãi trong năm 2018, đạt tỷ lệ 83%. Số doanh nghiệp đã hoàn thành lợi nhuận kế hoạch là 307 doanh nghiệp, chiếm 45,7%. Nhóm các doanh nghiệp tăng trưởng mạnh nhất trong năm 2018 có các mã tiêu biểu: VHM (909,7%), ACB (142,5%), ANV (321,5%), MSR (222,3%). (Bizlive.vn ngày 06/02 dẫn số liệu thống kê từ Hệ thống FiinPro Platform, StoxPlus) |
| Trong danh sách 500 thương hiệu ngân hàng có giá trị nhất trên thế giới do Brand Finance vừa công bố, Việt Nam có 4 ngân hàng là BIDV, VietinBank và Vietcombank và VPBank. VPBank là ngân hàng tư nhân duy nhất của Việt Nam lọt vào danh sách này, đứng ở vị trí 361. Thứ hạng của giá trị thương hiệu VietinBank tăng từ 310 lên 242, BIDV tăng từ 351 lên 307, Vietcombank tăng từ 368 lên 325 so với năm ngoái. (Theo bnews.vn ngày 11/02) | |
| Tính đến ngày 01/02/2019, trên cả 3 sàn HoSE, HNX, Upcom có tổng cộng 29 doanh nghiệp có vốn hóa trên 1 tỷ USD. VinGroup soán ngôi Vinamilk, trở thành doanh nghiệp có vốn hóa lớn nhất TTCK Việt Nam với hơn 315 nghìn tỷ đồng, tương ứng 13,6 tỷ USD.
Nhóm ngân hàng chiếm áp đảo về số lượng trong danh sách tỷ đô khi có tới 8 cái tên góp mặt trong danh sách, bao gồm Vietcombank (9 tỷ USD), BIDV (4,7 tỷ USD), Techcombank (4,1 tỷ USD), Vietinbank (3,2 tỷ USD), VPBank (2,1 tỷ USD), MBBank (2 tỷ USD), ACB (1,6 tỷ USD) và HDBank (1,3 tỷ USD). (Theo bizlive.vn ngày 11/02) |
|
| Năm 2019, ngành thuỷ sản đang hướng tới mục tiêu xuất khẩu cá tra đạt 2,4 tỷ USD. Mục tiêu này hoàn toàn có thể đạt được, bởi hiện các nhà máy chế biến cá tra của Việt Nam đều đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn mà các nước nhập khẩu khó tính như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU đã đánh giá và công nhận.
Năm 2019, xuất khẩu cá tra là một trong những ngành được hưởng lợi nhiều nhất nhờ nhu cầu gia tăng tại Trung Quốc và thuế nhập khẩu cá tra vào Liên minh châu Âu (EU) sẽ giảm từ 5,5% về 0% trong 3 năm (với cá tra thô); từ 7% về 0% trong 7 năm (với cá tra chế biến). Năm 2018, xuất khẩu cá tra đạt mức kỷ lục 2,26 tỷ USD, tăng 26,4% so với năm 2017. (Bnews ngày 09/02 dẫn nguồn tin từ Tổng cục Thuỷ sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) |
|
| Năm 2019 có gần 150 doanh nghiệp thuộc kế hoạch cổ phần hóa, thoái vốn đã được phê duyệt. Trong quý I/2019, Bộ Công Thương sẽ bàn giao tối thiểu 5 doanh nghiệp đủ điều kiện sang Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC). Theo tính toán của SCIC, có hơn 100 doanh nghiệp hiện đủ điều kiện chuyển giao về Tổng công ty. (Theo Tinnhanhchungkhoan.vn ngày 14/02) | |
| Số dư Quỹ bình ổn giá xăng dầu tính đến hết năm 2018 là hơn 3.500 tỷ đồng, giảm khoảng 1.600 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2017. Trong quý IV/2018, tổng số tiền trích quỹ bình ổn giá là trên 2.104 tỷ đồng; số tiền đã sử dụng là hơn 1.642 tỷ đồng. Cùng với lãi phát sinh trên số dư quỹ, quỹ bình ổn giá tới hết quý IV/2018 đạt trên 3.504 tỷ đồng. Số dư quỹ này tại thời điểm ngày 31/12/2017 là hơn 5.105 tỷ đồng. (Theo Bộ Tài chính ngày 12/2) | |
| Trong năm 2018, qua kiểm toán tổng hợp tại các bộ, ngành và 26 cuộc kiểm toán liên quan đến việc quản lý, sử dụng vốn ODA, Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị xử lý tài chính 21.712 tỷ đồng. Một số dự án có sai sót lớn như Dự án Đường sắt đô thị Hà Nội, tuyến Cát Linh – Hà Đông kiến nghị xử lý tài chính 2.814 tỷ đồng, bằng 23,6% giá trị được kiểm toán.
Dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị số 1 thành phố Hồ Chí Minh, tuyến Bến Thành – Suối Tiên kiến nghị xử lý tài chính 2.898 tỷ đồng, bằng 11,4% giá trị được kiểm toán. (Theo Kiểm toán Nhà nước ngày 12/02) |
|
| Tổ chức Xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s xếp hạng tiền gửi nội tệ dài hạn mức Ba3 và xếp hạng nhà phát hành nội, ngoại tệ dài hạn mức Ba3, triển vọng ổn định đối với Agribank. Moody’s nhấn mạnh Agribank đã tích cực xử lý tài sản có vấn đề trong 5 năm qua, với nhiều tiến bộ quan trọng trong 6 tháng cuối năm 2018; huy động vốn và thanh khoản ở mức tốt. Đến nay, tỷ trọng cho vay nông nghiệp, nông thôn của Agribank chiếm hơn 70% tổng dư nợ, chiếm trên 50% thị phần tín dụng nông thôn tại Việt Nam. Agribank là ngân hàng lớn nhất Việt Nam về tiền gửi và có mạng lưới rộng nhất tại Việt Nam. (Theo Infomoney.vn ngày 12/02) | |
| Tổng cầu | |
| Đầu tư | Năm 2019, Tổng công ty có kế hoạch khởi công 33 dự án lưới điện truyền tải; trong đó có 3 dự án 500kV và 30 dự án 220kV; đồng thời hoàn thành và đưa vào vận hành 47 dự án; trong đó có 14 dự án 500kV, 30 dự án 220kV và ba dự án 110kV, với tổng giá trị 19.500 tỷ đồng, tăng 3.731 tỷ đồng so với khối lượng đầu tư năm trước.
Trong năm 2019, tổng công ty sẽ tập trung đảm bảo tiến độ hoàn thành các công trình quan trọng đảm bảo cấp điện cho miền Nam và hoàn thành các công trình trọng điểm đảm bảo cung cấp điện cho Hà Nội và các khu vực kinh tế trọng điểm. (Thời báo Tài chính ngày 03/02 dẫn nguồn tin từ Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia – EVNNPT) |
| Ngân sách nhà nước |
Tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) tháng 01/2019 ước đạt 144,6 nghìn tỷ đồng, bằng 10,2% dự toán, tăng 7,5% so cùng kỳ năm 2018. Trong đó, thu nội địa ước đạt 120,5 nghìn tỷ đồng, bằng 10,3% dự toán, tăng 5,3% (so cùng kỳ năm 2018).
Thu từ dầu thô ước đạt 4,5 nghìn tỷ đồng, bằng 10,1% dự toán. Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt 19,5 nghìn tỷ đồng, bằng 10,3% dự toán. Tổng chi cân đối NSNN tháng 01/2019 ước đạt 92,9 nghìn tỷ đồng, bằng 5,7% dự toán. Riêng chi đầu tư phát triển đạt thấp, khoảng 0,6% dự toán do đang trong quá trình phân bổ, thông báo kế hoạch vốn cho các chủ đầu tư. (Theo Bộ Tài chính ngày 01/02) |
| Trong tháng 01/2019, toàn ngành Tài chính đã thực hiện 1.587 cuộc thanh tra, kiểm tra; điều tra chống buôn lậu, phát hiện, bắt giữ 1.430 vụ; kiến nghị xử lý tài chính hơn 981 tỷ đồng, xử phạt vi phạm hành chính hơn 63,2 tỷ đồng; số tiền đã thu nộp NSNN hơn 220,7 tỷ đồng.
Từ ngày 16/12/2018 đến ngày 15/1/2019, cơ quan hải quan đã chủ trì, phối hợp, phát hiện, bắt giữ tổng số 1.430 vụ việc vi phạm, trị giá hàng hóa vi phạm ước tính hơn 39,2 tỷ đồng; số thu ngân sách đạt 15,579 tỷ đồng; cơ quan hải quan khởi tố 5 vụ án hình sự; chuyển cơ quan khác khởi tố 10 vụ. Cơ quan thuế đã thực hiện 802 cuộc thanh tra, kiểm tra đối với 580 hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế. Qua thanh tra, kiểm tra, cơ quan thuế đã xử lý tăng thu gần 519 tỷ đồng. (Theo Bộ Tài chính ngày 06/02) |
|
| Xuất nhập khẩu | Việt Nam có nhiều cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu tôm sang thị trường Hàn Quốc trong năm 2019 nhờ nhu cầu ổn định, giá xuất khẩu cao, ưu đãi thuế quan thông qua Hiệp định Thương mại Tự do Hàn Quốc – Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh.
Dự báo kim ngạch xuất khẩu tôm sang Hàn Quốc đạt 500 triệu USD trong năm 2019, tăng 29,5% so với năm 2018. Hàn Quốc là thị trường nhập khẩu tôm lớn thứ 5 của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 10,9%. Năm 2018, xuất khẩu tôm Việt Nam sang Hàn Quốc đạt 385,8 triệu USD, tăng 1% so với năm 2017. (Theo thông tin từ VASEP ngày 11/02) |
| Trong 15 ngày đầu tháng 01/2019 cả nước nhập 6.362 ô tô nguyên chiếc, trị giá gần 158 triệu USD, tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2018 (47 xe với tổng kim ngạch gần 5,5 triệu USD). Trong đó ô tô dưới 9 chỗ ngồi chiếm phần lớn với 4.264 xe, tổng trị giá gần 96 triệu USD.
Như vậy, trị giá bình quân một chiếc xe du lịch nhập về là 22.500 USD (chưa thuế), tương đương 523 triệu đồng. Năm 2018, cả nước nhập 81.609 ô tô, với tổng kim ngạch 1,8 tỷ USD, giảm 16,1% về số lượng và 19,8% về trị giá so với năm 2017. (Theo thông tin từ Tổng cục Hải quan ngày 12/02) |
|
| Cân đối vĩ mô | |
| Giá vàng | Trong tuần qua, giá vàng có 2 ngày tăng giá, 1 ngày giảm giá và 3 ngày giá tăng/giảm trái triều. Trong phiên giao dịch ngày 16/02 so với ngày 15/02, giá vàng miếng SJC được niêm yết tại một số doanh nghiệp kinh doanh vàng:
– Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn: 36,74 – 36,98 triệu đồng/lượng, tăng 110 nghìn đồng/lượng ở chiều mua vào và tăng 130 nghìn đồng/lượng chiều bán ra. – Công ty Doji: 36,80 – 37,20 triệu đồng/lượng, tăng 150 nghìn đồng/lượng chiều mua vào và 50 nghìn đồng/lượng chiều bán ra. |
| Tỷ giá | Tính chung tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng 48 đồng so với tuần trước với 3 ngày tăng giá, 1 ngày giảm giá và 2 ngày không thay đổi. Trong phiên giao dịch ngày 16/02, tỷ giá trung tâm là 22.915 VND/USD, không thay đổi so với tỷ giá ngày 15/02; tỷ giá USD tại một số ngân hàng thương mại nhìn chung không thay đổi so với ngày 15/02 như sau:
– Vietcombank: 23.150-23.250 VND/USD, không đổi. – BIDV: 23.150- 23.250 VND/USD, không thay đổi. – Techcombank: 23.150-23.250 VND/USD, tăng 20 đồng ở chiều mua vào và không đổi ở chiều bán ra. |
| Tín dụng | Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đưa ra định hướng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của năm 2019 là khoảng 14%. Tín dụng được điều hành theo hướng mở rộng nhưng phải đi đôi với an toàn, hiệu quả và tiếp tục tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên và kiểm soát tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Do vốn đầu tư cho nền kinh tế đến từ nhiều nguồn khác nhau nên NHNN sẽ điều chỉnh tăng trưởng tín dụng cho phù hợp để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế Chính phủ đề ra. (Báo điện tử Tổ quốc ngày 07/02 dẫn lời Phó Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng) |
| Thị trường tài sản | |
| Cổ phiếu | Vốn hóa thị trường cuối năm 2018 đạt khoảng 4 triệu tỷ đồng, tăng 13,7% so với 2017. Tỷ lệ vốn hóa/GDP đạt 72,3%, trong khi năm 2017 đạt 70,3%. Tổng giá trị vốn huy động bằng IPO và phát hành thêm cổ phiếu của các doanh nghiệp trong năm đạt khoảng 120.000 tỷ đồng, tăng trưởng 45% so với năm 2017. Trong đó, giá trị các đợt IPO đạt khoảng 74.000 tỷ đồng (khoảng 3,3 tỷ USD), tăng gần 2,5 lần so với năm 2017. (Theo số liệu thống kê trên FiinPro Platform của Stoxplus ngày 11/02) |
| Trong tháng 2 sẽ chào bán hơn 37, 6 triệu cổ phần của các doanh nghiệp: Công ty cổ phần Cấp nước Thái Hòa, Công ty cổ phần Cấp nước Diễn Châu, Công ty cổ phần Cấp nước Cửa Lò, Công ty cổ phần Cấp nước Quỳnh Lưu, Công ty cổ phần Môi trường đô thị Hà Tĩnh, Công ty cổ phần Cấp thoát nước Ninh Bình, Công ty cổ phần Lilama 69 – 3, Công ty cổ phần Lilama 10. Trong năm 2018, HNX tổ chức 40 phiên đấu giá, trong đó có 10 phiên IPO, 29 phiên thoái vốn và 1 phiên đấu giá quyền mua.
Tổng khối lượng cổ phần trúng giá hơn 1,09 tỷ cổ phần, đạt tỷ lệ thành công 54%, gấp 3 lần khối lượng cổ phần trúng giá năm 2017. Tổng giá trị cổ phần trúng giá đạt 21,07 nghìn tỷ đồng, gấp 4 lần giá trị cổ phần trúng giá của năm 2017. Tổng thặng dư vốn cổ phần đạt hơn 10 nghìn tỷ đồng, tổng chênh lệch so với giá khởi điểm đạt 2,8 nghìn tỷ đồng. (Theo Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội – HNX ngày 01/02) |
|
| Trong tuần từ ngày 11/02 – 15/02/2019:
– VN-Index có 4 ngày tăng điểm và 1 ngày giảm điểm. Chốt tuần, VN-Index giảm 1,45 điểm xuống 950,89 điểm. Tổng khối lượng giao dịch bình quân đạt 174,02 triệu đơn vị/ngày, tổng giá trị giao dịch bình quân đạt 4.156,16 triệu đơn vị/ngày. – HNX-Index có 3 ngày tăng điểm và 2 ngày giảm điểm. Chốt tuần, HNX-Index giảm 8 điểm xuống 106,11 điểm. Tổng khối lượng giao dịch bình quân đạt 34,65 triệu đơn vị/ngày, tổng giá trị giao dịch bình quân đạt 415,42 triệu đơn vị/ngày. – Upcom-Index có 3 ngày tăng điểm và 2 ngày giảm điểm. Chốt tuần, Upcom-Index giảm 0,15 điểm xuống 55,24 điểm. Tổng khối lượng giao dịch bình quân đạt 8,098 triệu đơn vị/ngày, tổng giá trị giao dịch bình quân đạt 184,13 tỷ đồng/ngày. |
|
| Trong tuần qua, khối ngoại đã mua ròng 37,63 triệu đơn vị, với tổng giá trị 1.875,89 tỷ đồng, tăng 72,46% về lượng và tăng gấp hơn 2,7 lần về giá trị so với tuần trước Tết Nguyên đán – kết thúc vào ngày 01/02 (mua ròng 500,79 tỷ đồng).
– HOSE: Khối ngoại thực hiện 5 phiên mua ròng liên tiếp với khối lượng 38,47 triệu đơn vị, tăng hơn 124% so tuần giao dịch kết thúc vào ngày 01/02, tuy nhiên, về giá trị, khối ngoại bán ròng 1.867,58 tỷ đồng, tăng gấp gần 4 lần. – HNX: Khối ngoại thực hiện 3 phiên mua ròng và 2 phiên bán ròng. Tổng cộng, khối ngoại đã bán ròng 1,92 triệu đơn vị, tuy nhiên về giá trị, khối ngoại mua ròng 0,36 tỷ đồng (tuần trước giao dịch kết thúc vào ngày 01/02 mua ròng hơn 4 triệu đơn vị, giá trị 81,8 tỷ đồng). – UPCoM: Khối ngoại mua ròng 4 phiên và bán ròng 1 phiên vào cuối tuần 15/2. Tổng cộng, khối ngoại đã mua ròng 1,09 triệu đơn vị với giá trị 7,95 tỷ đồng, tăng 70,3% về lượng nhưng giảm 81,2% về giá trị so với tuần kết thúc vào ngày 01/02. |
|
| Nhận định
chuyên gia |
Ông Nguyễn Mạnh Hà, Phó Chủ tịch Hiệp Hội Bất động sản Việt Nam (04/02):
Thị trường bất động sản năm 2019 sẽ phát triển với nguồn cung dồi dào, tập trung vào các dự án lớn. Những thành phố thu nhỏ với dịch vụ đầy đủ, hạ tầng đồng bộ như dự án của Vingroup sẽ là xu hướng dẫn dắt thị trường. Do nguồn cung dồi dào nên bất động sản sẽ không có khả năng tăng giá đột biến, thị trường ổn định; đặc biệt, phân khúc bất động sản công nghiệp sẽ rất phát triển. Chuyên gia kinh tế Trần Hoàng Ngân (09/02): Năm 2019, mục tiêu tăng trưởng GDP 6,6 – 6,8% là khả thi. Tuy nhiên, năm 2019, kinh tế Việt Nam sẽ gặp nhiều thách thức lớn bởi tình hình kinh tế thế giới có nhiều bất ổn, khó lường như chiến tranh thương mại Hoa Kỳ – Trung Quốc, chính sách bảo hộ mậu dịch tạo rào cản nhất định đến tốc độ tăng trưởng kinh tế nói chung. Với độ mở trên 200%, kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ có những tác động từ kinh tế thế giới nên phải hết sức chú ý. Điều quan trọng là, chúng ta cần phát huy tiềm năng, thế mạnh sẵn có như nông nghiệp, du lịch… để bảo đảm kinh tế phát triển bền vững. Ngân hàng HSBC (11/02): Năm 2018 là năm thứ 6 liên tiếp Việt Nam thu hút được lượng vốn đầu tư nước ngoài cao kỷ lục. Với nền tảng vững chắc của một nền kinh tế ủng hộ tự do thương mại và tăng trưởng mạnh, trong năm 2019, Việt Nam tiếp tục là điểm đến đầu tư thu hút cho các doanh nghiệp quốc tế. Việt Nam cần phát huy lợi thế từ một nền kinh tế tăng trưởng nhanh cùng với những chính sách hỗ trợ phát triển của Chính phủ để có thể hội nhập sâu hơn nữa vào khu vực và tận dụng được nhiều lợi ích đến từ cơ hội toàn cầu hóa. |
Theo Trung tâm Thông tin và Dịch vụ Tài chính
Vai trò của chính sách tiền tệ
Bài viết này là diễn văn nhận chức chủ tịch Hội Kinh tế Mỹ (AES) của Milton Friedman, được phát biểu tại cuộc họp thường niên lần thứ 8 của AES, tại Washington, D. C, ngày 19 tháng 12 năm 1967. “Phần lớn chúng ta đều đồng thuận với các mục tiêu quan trọng của chính sách kinh tế: gia tăng tỷ lệ lao động có việc làm, ổn định giá cả, và tăng trưởng nhanh. Một số người thì cho rằng những mục tiêu này cùng tương hợp hoặc, trong đó có một số thì cho rằng chúng không tương hợp, theo nghĩa chúng có thể và nên được thay thế bởi một đồng thuận khác. Chỉ có một số rất ít đồng thuận về vai trò mà nhiều công cụ chính sách khác có thể và nên đảm trách để đạt được những mục tiêu này. Chủ đề của tôi trong buổi tối ngày hôm nay là vai trò của một trong những công cụ ấy – chính sách tiền tệ. Chính sách này có thể làm gì? Và nó nên được sử dụng như thế nào để đạt được hiệu quả nhất có thể? Các ý kiến xoay quanh những câu hỏi này thường xuyên thay đổi.”
Phần lớn chúng ta đều đồng thuận với các mục tiêu quan trọng của chính sách kinh tế: gia tăng tỷ lệ lao động có việc làm, ổn định giá cả, và tăng trưởng nhanh. Một số người thì cho rằng những mục tiêu này cùng tương hợp hoặc, trong đó có một số thì cho rằng chúng không tương hợp, theo nghĩa chúng có thể và nên được thay thế bởi một đồng thuận khác. Chỉ có một số rất ít đồng thuận về vai trò mà nhiều công cụ chính sách khác có thể và nên đảm trách để đạt được những mục tiêu này.
Chủ đề của tôi trong buổi tối ngày hôm nay là vai trò của một trong những công cụ ấy – chính sách tiền tệ. Chính sách này có thể làm gì? Và nó nên được sử dụng như thế nào để đạt được hiệu quả nhất có thể? Các ý kiến xoay quanh những câu hỏi này thường xuyên thay đổi. Bắt đầu từ lòng nhiệt thành với Hệ thống Dự trữ Liên bang mới được hình thành, nhiều nhà quan sát đã cho rằng chính năng lực tinh chỉnh của hệ thống đã tạo ra sự ổn định tương đối của những năm 1920 – để áp dụng một thuật ngữ hiện đại phù hợp. Nhiều người tin rằng một kỷ nguyên mới đã đến khi các chu kỳ kinh doanh bị xem là lỗi thời bởi những tiến bộ của công nghệ tiền tệ. Quan điểm này được giới kinh tế và tầng lớp thường dân đồng thuận, mặc dù, tất nhiên, cũng có một số tiếng nói bất hòa. Cuộc đại suy thoái (Great Contraction) đã đập tan thái độ ngây thơ này. Quan điểm được chuyển sang một thái cực khác. Chính sách tiền tệ là một sợi dây. Bạn có thể kéo nó để ngăn ngừa lạm phát nhưng bạn không thể dùng nó để chặn đứng cuộc suy thoái. Bạn có thể đưa một con ngựa đi uống nước nhưng bạn không thể bắt nó uống. Kiểu lý thuyết cách ngôn này đã sớm bị thay thế bởi phân tích tinh vi và chính xác của Keynes.
Keynes đã cùng lúc đưa ra một lời giải về sự bất lực giả định của chính sách tiền tệ để dập tắt cuộc khủng hoảng, một diễn giải phi tiền tệ về cuộc khủng hoảng, và một diễn giải thay thế chính sách tiền tệ để giải quyết cuộc khủng hoảng và đề xuất của ông ấy đã được chấp nhận với đầy khao khát. Nếu ưa thích thanh khoản là có thật hoặc gần như thế – bởi Keynes khá tin vào thời kỳ thất nghiệp cao – thì lãi suất không thể bị hạ thấp bởi những tính toán tiền tệ. Nếu đầu tư và tiêu dùng ít bị ảnh hưởng bởi lãi suất – như Hansen và nhiều môn đồ khác của Keynes ở Mỹ tin là như vậy – hạ thấp lãi suất, thậm chí khi có thể đạt được, sẽ không tạo ra điều gì tốt cả. Chính sách tiền tệ đã hai lần bị chỉ trích. Cuộc suy thoái bắt đầu, theo quan điểm này, do sụt giảm đầu tư hoặc thiếu cơ hội đầu tư hoặc do tiết kiệm quá mức, không thể, được cho là, bị chặn đứng bởi những tính toán tiền tệ. Nhưng còn có một chính sách tài khóa thay thế có thể sử dụng. Chi tiêu chính phủ có thể thay thế đầu tư tư nhân không hiệu quả. Giảm thuế có thể giúp giải quyết vấn đề tiết kiệm quá mức.
Việc chấp nhận rộng rãi những quan điểm này trong giới kinh tế cho thấy, trong khoảng hai thập kỷ chính sách tiền tệ đã được mọi người tin dùng ngoại trừ một số kẻ đối lập vẫn bám víu vào lý thuyết của kinh tế học mới. Tiền không phải là vấn đề. Nó chỉ đóng một vai trò nhỏ là giữ lãi suất ở mức thấp, để giảm thanh toán lãi suất của ngân sách chính phủ, góp phần vào “tinh thần tử vì đạo của người thực lợi,” và có thể, kích thích nhẹ hoạt động đầu tư để hỗ trợ chi tiêu chính phủ nhằm duy trì một mức tổng cầu cao.
Những quan điểm này khiến chính sách tiền rẻ sau chiến tranh được áp dụng rộng rãi. Và giới kinh tế đã phải nhận một cú sốc khủng khiếp khi những chính sách này thất bại ở từng nước một, khi từng ngân hàng trung ương buộc phải gạt bỏ tính tự phụ vì rõ ràng không thể giữ lãi suất ở mức thấp. Ở đất nước này, kết cục tương tự cũng xảy ra với Hòa ước giữa Bộ Tài chính – Cục dự trữ Liên bang năm 1951, mặc dù chính sách neo giá trái phiếu của chính phủ không chính thức bị bãi bỏ cho đến tận 1953. Lạm phát, bắt nguồn từ chính sách tiền rẻ, không phải do khủng hoảng hậu chiến tranh được tiên liệu rộng rãi trước đó, làm mất đi trật tự của thời đại. Điều này khởi đầu cho sự hồi phục niềm tin vào sự hiệu nghiệm của chính sách tiền tệ.
Sự hồi phục này được ấp ủ mạnh mẽ trong giới kinh tế bằng những phát triển về lý thuyết được Haberler khởi xướng nhưng lại được biết đến bởi Pigou, đã chỉ ra một phương thức – đặc biệt, thay đổi về của cải – mà nhờ đó thay đổi lượng tiền thực tế có thể tác động đến tổng cầu mà thậm chí không làm thay đổi lãi suất. Những phát triển lý thuyết này không khiến lập luận của Keynes chống lại sức mạnh của những tính toán tiền tệ chính thống suy yếu, khi ưa thích thanh khoản được ưa chuộng trong những điều kiện mà việc điều hành tiền tệ thông thường đơn giản là bao gồm việc thay thế tiền cho những tài sản khác mà không làm thay đổi tổng lượng của cải. Nhưng họ đã chỉ ra những thay đổi về lượng tiền xuất hiện như thế nào theo nhiều cách khác nhau có thể ảnh hưởng đến tổng chi tiêu thậm chí trong những tình huống như vậy. Và, cơ bản hơn nữa, họ tấn công luận điểm lý thuyết chủ đạo của Keynes, rằng thậm chí trong một thị trường giá linh hoạt, một trạng thái cân bằng tại mức toàn dụng lao động có thể không tồn tại. Từ nay về sau, thất nghiệp lại phải được giải thích bởi tính cứng nhắc hoặc tính không hoàn hảo, mà không phải bởi sản lượng tự nhiên của một quá trình được điều tiết hoàn toàn bởi thị trường.
Sự hồi phục niềm tin trong cuộc tấn công chính sách tiền tệ được ấp ủ cũng bởi một cuộc tái lập vai trò của tiền tệ từ năm 1929 đến 1933. Keynes và hầu hết các nhà kinh tế trong thời đại này tin rằng Đại khủng hoảng ở Mỹ xảy ra là bởi những chính sách tiền tệ bành trướng quá mức do các cơ quan tiền tệ – khi họ đã làm tốt nhất có thể nhưng vẫn chưa đủ tốt.4 Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy thực tế hoàn toàn ngược lại: Các cơ quan tiền tệ của Mỹ đã áp dụng chính sách kiềm chế lạm phát triệt để. Lượng tiền trong nước Mỹ đã giảm 1/3 trong giai đoạn khủng hoảng. Và nó giảm không phải bởi không có những người sẵn sàng cho vay – không phải bởi con ngựa không uống nước. Nó giảm bởi Hệ thống Cục dự trữ Liên bang đã cố áp hoặc cho phép một mức giảm rõ rệt lượng tiền cơ sở, bởi Cục đã thất bại trong việc thực thi trách nghiệm được ấn định trong Hiến định của Cục dự trữ Liên bang về việc cung cấp thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Đại khủng hoảng là bằng chứng rõ ràng về sức mạnh của chính sách tiền tệ – không phải, như Keynes và nhiều môn đồ của ông tin rằng, là bằng chứng cho sự bất lực của nó.
Ở Mỹ, sự hồi phục niềm tin vào sự hiệu nghiệm của chính sách tiền tệ đã được củng cố cũng bởi mọi người đã vỡ mộng với chính sách tài khóa, khi nó không có nhiều khả năng tác động tới tổng cầu cũng như không có tính khả thi trong thực tiễn và chính trị. Trong nỗ lực điều chỉnh hoạt động của toàn nền kinh tế, các khoản chi tiêu dần phản ứng chậm chạp và có độ trễ cao, vì thế mối quan tâm chuyển vào thuế. Nhưng ở đây những yếu tố chính trị tham gia hoàn toàn là để ngăn sự điều chỉnh tức thời với nhu cầu được dự đoán, như đã được trình bày bằng đồ họa trong hàng tháng từ khi tôi viết bản nháp đầu tiên của bài phát biểu này. “Tinh chỉnh” là một cụm từ có chất gợi kỳ diệu trong thời đại điện tử này, nhưng nó không giống `lắm với, tôi bổ sung thêm, một điều thuần ác có thể xảy ra trong thực tiễn.
Rất khó để nhận ra quan điểm của giới kinh tế về vai trò của tiền tệ đã thay đổi căn bản như thế nào. Hiếm có một nhà kinh tế nào ngày nay chấp nhận các quan điểm được xem là bịa đặt trong khoảng hai thập kỷ qua. Tôi sẽ trích ở đây một vài ví dụ.
Trong cuộc trao đổi được công bố năm 1945, E. A. Goldenweiser, sau đó là Giám đốc của Bộ phận Nghiên cứu của Ủy ban Dự trữ Liên bang, đã cho rằng mục đích cơ bản của chính sách tiền tệ là để “duy trì giá trị của trái phiếu chính phủ… Đất nước này sẽ phải điều chỉnh lãi suất lên 2.5% bằng lợi nhuận trên tiền lâu dài, an toàn, bởi thời gian thích hợp khi lợi nhuận của vốn tiên phong có thể không còn bị giới hạn như trong quá khứ nữa” [4, trang 117].
Trong một cuốn sách có tên Tài trợ cho sự thịnh vượng của nước Mỹ (Financing American Prosperity), do Paul Homan và Fritz Machlip chủ biên, xuất bản năm 1945, Alvin Hansen đã dành 9 trang để nói về “vấn đề tiết kiệm-đầu tư” mà không có bất kỳ nhu cầu sử dụng từ “lãi suất” nào hoặc bất kỳ mô phỏng nào gần gũi hơn nữa [5, pp. 218-27]. Trong tập này, Fritz Machlup đã viết, “Những nghi vấn về lãi suất, đặc biệt là về sự biến động hoặc ổn định của nó, có thể không nằm trong những vấn đề quan trọng nhất của nền kinh tế hậu chiến tranh, nhưng chúng thực sự là những vấn đề rắc rối” [5, p. 466] Trong phần của mình, John H. Williams – không chỉ là giáo sư tại Harvard mà còn là một cố vấn kỳ cựu cho Ngân hàng Dự dữ Liên bang New York – viết “Tôi không thấy một viễn cảnh nào về sự hồi phục việc kiểm soát tiền tệ hoàn toàn trong giai đoạn hậu chiến tranh” [5, p. 383].
Một phần khác trong những tập này đề cập tới chính sách hậu chiến tranh đã xuất hiện tại thời điểm này, Hoạch định và Thanh toán cho Toàn dụng Lao động (Planning and Paying for Full Employment), do Abba P. Lerner và Frank D. Graham chủ biên [6] và gồm những tác giả mang tất cả những sắc thái quan điểm chuyên gia – từ Henry Simons và Frank Graham đến Abba Lerner và Hans Neisser. Tuy Albert Halasi, trong bài tổng hợp xuất sắc của mình, đã có thể nói “Những tác giả của chúng tôi không thảo luận những câu hỏi về cung tiền…Chúng tôi cũng không quan tâm đặc biệt đến chính sách tín dụng để chữa vết thương của cuộc khủng hoảng…Lạm phát…có thể được giải quyết hiệu quả hơn bằng cách tăng lãi suất…Nhưng…Những tính toán chống lạm phát khác…có thể được ưa dùng hơn” [6, pp. 23-24]. Nghiên cứu về Kinh tế học Đương đại (A Survey of Contemporary Economics), do Howard Ellis chủ biên xuất bản năm 1948, là một nỗ lực “chính thức” nhằm soạn thảo trạng thái tư tưởng kinh tế của thời đại. Trong phần của mình, Arthur Smithies viết, “Trong khuôn khổ hoạt động bồi thường, tôi tin rằng phải dùng chính sách tài khóa nhiều hơn. Đối thủ chính của nó, chính sách tiền tệ, dường như không phù hợp trong bối cảnh thể chế này. Đất nước này dần cam kết hơn với những thứ như mức lãi suất thấp hiện tại trên một cơ sở lâu dài” [1, p.208].
Những trích dẫn này cho thấy kiểu tư tưởng của giới chuyên gia cách đây khoảng hai thập kỷ. Nếu bạn muốn đi xa hơn trong cuộc điều tra khiêm tốn này, tôi khuyên bạn nên so sánh những phần nói về tiền tệ – khi bạn tìm thấy chúng – trong những cuốn sách Nguyên lý trong những năm đầu hậu chiến tranh với những phần dài bị cắt bỏ hiện tại, hoặc đặc biệt, khi những nguyên lý trước đó và gần đây là những ấn bản khác của cuốn sách đã nói ở trên.
Con lắc đã dao động mạnh hơn kể từ đó, nếu không phải là tất cả những tư tưởng dẫn đến quan điểm của cuối những năm 1920, thì ít nhất là gần với quan điểm ấy hơn với quan điểm của năm 1945. Đương nhiên có nhiều sự khác biệt giữa thời điểm đó và bây giờ, ít trong cuộc tấn cống được cho là nhằm vào chính sách tiền tệ hơn là những vai trò mà nó đảm nhiệm và tiêu chuẩn mà giới chuyên gia tin rằng chính sách tiền tệ nên đi theo. Sau đó, vai trò chính của chính sách tiền tệ là thúc đẩy ổn định giá cả và bảo vệ chuẩn bản vị vàng; tiêu chuẩn chính của chính sách tiền tệ là trạng thái của “thị trường tiền tệ”, mở rộng “đầu cơ” và sự dịch chuyển của vàng. Ngày nay, vai trò cơ bản được cho là thúc đẩy toàn dụng lao động, bằng cách ngăn ngừa lạm phát, mục tiêu vẫn tiếp tục nhưng rõ ràng là bị đẩy xuống vị trí thứ hai. Và có một bất đồng lớn về tiêu chuẩn chính sách, từ việc nhấn mạnh vào những điều kiện của thị trường tiền tệ, lãi suất và lượng tiền, đến niềm tin rằng trạng thái lao động nên là tiêu chuẩn tương đương của chính sách.
Tuy nhiên tôi nhấn mạnh đến sự tương đồng giữa những quan điểm thắng thế trong cuối thế kỷ 20 và những quan điểm đang thịnh hành bởi tôi sợ rằng, bây giờ và sau này, con lắc có thể xoay đi quá xa, và, chúng ta gặp nguy hiểm khi giao cho chính sách tiền tệ một vai trò lớn hơn khả năng của nó, khi yêu cầu nó hoàn thành những nhiệm vụ mà nó không thể hoàn thành, và hệ quả là, rất nguy hiểm khi ngăn cản nó làm những điều mà nó có thể làm.
Tôi hiếm khi phải chê bai tầm quan trọng của tiền tệ, do đó, nhiệm vụ trước tiên của tôi sẽ là nhấn mạnh vào những gì mà chính sách tiền tệ không thể đảm nhiệm. Sau đó, tôi sẽ cố gắng vạch ra những điều mà nó có thể làm và cách nó có thể làm tốt nhất, trong khả năng hiểu biết – hoặc hạn chế hiện tại của chúng ta.
- Chính sách Tiền tệ không thể làm gì
Từ vô vàn những điều phủ định, tôi lựa chọn ra đây hai hạn chế của chính sách tiền tệ để thảo luận: (1) Không thể neo lãi suất trong hơn mọi giai đoạn giới hạn; (2) Không thể ổn định tỷ lệ thất nghiệp trong hơn mọi giai đoạn giới hạn. Tôi lựa chọn hai điều này bởi sự tương phản giữa chúng hoặc chúng được công nhận rộng rãi, bởi chúng đảm nhiệm hai nhiệm vụ chính không thể hoàn thành được gán cho chính sách tiền tệ, và quan trọng là bởi những phân tích lý thuyết tương tự của cả hai.
Neo lãi suất
Lịch sử đã chứng minh cho hầu hết mọi người về hạn chế đầu tiên này. Như đã lưu ý trước đó, thất bại của chính sách tiền rẻ là nguyên nhân chính của phản ứng chống lại chủ nghĩa Keynesian đơn giản. Ở Mỹ, phản ứng này bao gồm sự công nhận rộng rãi rằng trong thời chiến và hậu chiến, việc neo giá trái phiếu là một sai lầm, việc ngăn cản chính sách này là một bước đi cần thiết và đáng mong đợi, và không có hệ quả kinh khủng và ghê gớm nào được dự đoán một cách thẳng thắn trong thời gian này.
Hạn chế này bắt nguồn từ một đặc điểm được hiểu sai khá nhiều về mối quan hệ giữa tiền tệ và lãi suất. Hãy để Cục Dự trữ Liên bang xử lý để giữ lãi suất thấp. Cục Dự trữ Liên bang cố gắng thực hiện điều này như thế nào? Bằng cách mua cổ phiếu. Điều này khiến giá của chúng tăng lên và hạ thấp lợi nhuận của chúng xuống. Trong quá trình này, hành động của FED cũng làm tăng lượng dự trữ có thể đối với các ngân hàng, sau đó là lượng tín dụng ngân hàng, và, cuối cùng là tổng lượng tiền. Đó là lý do tại sao, đặc biệt với các ngân hàng trung ương, và rộng hơn là cộng đồng tài chính, nhìn chung tin rằng khi lượng tiền tăng sẽ làm hạ lãi suất. Các nhà kinh tế tháp ngà chấp nhận kết luận tương tự, nhưng vì những lý do khác. Họ thấy, trong mắt của mình, một kế hoạch ưa thích thanh khoản dốc xuống. Mọi người có thể bị xui khiến bằng cách nào để giữ một lượng tiền lớn? Cách duy nhất là chờ khi hạ lãi suất.
Cả hai đều đúng, ở chung một điểm. Tác động đầu tiên của việc tăng lượng tiền với một tốc độ nhanh hơn là để khiến lãi suất thấp hơn so với mức bình thường trong một thời gian. Nhưng điều này chỉ là khởi đầu chứ không phải điểm kết thúc của quá trình. Tốc độ tăng trưởng tiền tệ càng nhanh, sẽ kích thích tiêu dùng, vừa thông qua tác động vào đầu tư của thị trường lãi suất thấp vừa thông qua tác động vào tiêu dùng khác và do đó giá tương quan của cân bằng tiền mặt cao hơn mức kỳ vọng. Nhưng chi tiêu của người này sẽ là thu nhập của người khác. Tăng thu nhập sẽ làm tăng kế hoạch thanh khoản và nhu cầu vay nợ; và cũng làm tăng giá, vì thế sẽ giảm lượng tiền thực tế. Những tác động này sẽ đảo ngược áp lực giảm ban đầu lên lãi suất một cách công bằng, ví dụ, trong một giai đoạn dưới một năm. Cùng với đó họ sẽ dự định, sau khoảng một quãng nghỉ dài hơn, ví dụ, từ một đến hai năm, để đưa lãi suất trở lại mức ban đầu. Quả thực, với giả định khuynh hướng phản ứng quá mức của nền kinh tế, chúng có thể tăng lãi suất tạm thời vượt ra khỏi mức đó, thiết lập một quá trình điều chỉnh theo chu kỳ.
Một tác động thứ tư, khi và nếu nó đi vào hoạt động, thậm chí sẽ đi xa hơn, và chắc chắn nghĩa là một mức bành trướng tiền tệ cao sẽ phản ứng lại một mức lãi suất cao hơn, chứ không thấp hơn là sẽ được kỳ vọng. Hãy để mức tăng trưởng tiền tệ cao hơn làm tăng mức giá, và hãy để công chúng kỳ vọng rằng mức giá sẽ tiếp tục tăng. Những người vay tiền từ đó sẽ sẵn sàng trả và người cho vay thì sẽ yêu cầu lãi suất cao hơn – như Irving Fisher đã chỉ ra cách đây vài thập kỷ. Ảnh hưởng kỳ vọng về mức giá này sẽ dần dần phát triển và cũng chầm chậm biến mất. Fisher đã dự đoán rằng sẽ mất vài thập kỷ để hoàn tất việc điều chỉnh và ngày càng nhiều những công trình gần đây nhất quán với phỏng đoán này của ông.
Những ảnh hưởng có tính hệ quả này giải thích tại sao mọi nỗ lực giữ lãi suất ở mức thấp đã thúc đẩy cơ quan tiền tệ tham gia vào việc mua bán trên những thị trường mở cực lớn. Chúng giải thích tại sao, về mặt lịch sử, lãi suất danh nghĩa cao và tăng lại phù hợp với tăng trưởng nhanh về lượng tiền, như ở Brazil hay Chile và Mỹ những năm gần đây, và tại sao lãi suất thấp và giảm lại phù hợp với tăng trưởng lượng tiền chậm như ở Thụy Sĩ hiện nay và ở Mỹ giai đoạn 1929 – 1933. Dựa trên kinh nghiệm, lãi suất thấp là một tín hiệu cho thấy chính sách tiền tệ đang thắt chặt theo nghĩa lượng tiền đã tăng chậm lại, lãi suất cao là một tín hiệu cho thấy chính sách tiền tệ đang buông lỏng – theo nghĩa lượng tiền đang tăng nhanh. Nhưng thực tế trải nghiệm lại đi ngược lại hoàn toàn khỏi cái mà giới tài chính và giới chuyên môn gần như bỏ ngỏ.
Nghịch lý là, cơ quan tiền tệ có thể đảm bảo lãi suất danh nghĩa ở mức thấp – nhưng để làm thế họ sẽ phải sử dụng cái dường như là hướng đối nghịch lại, bằng cách sử dụng chính sách tiền tệ chống lạm phát. Tương tự như thế, họ có thể đảm bảo lãi suất danh nghĩa ở mức cao bằng cách sử dụng chính sách lạm phát và chấp nhận sự dịch chuyển tạm thời của lãi suất theo hướng ngược lại.
Những cân nhắc này không chỉ giải thích tại sao chính sách tiền tệ không thể neo lãi suất, mà nó còn giải thích tại sao lãi suất là một chỉ báo sai lầm cho việc liệu chính sách tiền tệ đang “nới lỏng” hay “thắt chặt”. Vì thế, sẽ tốt hơn khi nhìn vào mức độ thay đổi của lượng tiền.5
Lao động là một Tiêu chuẩn Chính sách
Giới hạn thứ hai mà tôi muốn thảo luận phần nhiều là chống lại lối tư duy hiện tại. Tăng trưởng tiền tệ, thường được biết, sẽ làm tăng lượng việc làm; khủng hoảng tiền tệ sẽ làm cản trở việc làm. Nếu thế thì tại sao, cơ quan tiền tệ không thể áp dụng một mục tiêu cho việc làm hay thất nghiệp – giả dụ, 3% thất nghiệp; sẽ là thắt chặt khi thất nghiệp thấp hơn mức mục tiêu; nới lỏng khi thất nghiệp cao hơn mục tiêu; và theo cách này neo thất nghiệp ở mức, giả dụ, 3%? Vấn đề là không thể làm chính sách như thế với lãi suất – sự khác biệt giữa hệ quả ngay lập tức và độ trễ của một chính sách Nhờ có Wicksell, tất cả chúng ta đã biết định nghĩa về lãi suất “tự nhiên” và khả năng tương phản giữa lãi suất “tự nhiên” và lãi suất “thị trường”. Phân tích trước đó về lãi suất có thể được diễn giải một cách công bằng trực tiếp theo khái niệm của Wicksell. Cơ quan tiền tệ có thể làm lãi suất thị trường thấp hơn lãi suất tự nhiên bằng cách tạo ra lạm phát. Và có thể khiến lãi suất thị trường cao hơn lãi suất tự nhiên bằng giảm phát. Chúng ta chỉ thêm một chút vào ý tưởng của Wicksell – Sự phân biệt của Irving Fisher giữa lãi suất danh nghĩa và thực tế. Hãy để cơ quan tiền tệ giữ lãi suất thị trường danh nghĩa một thời gian dưới lãi suất tự nhiên bằng lạm phát. Điều đó ngược lại sẽ làm tăng bản thân lãi suất danh nghĩa tự nhiên; khi những dự báo về lạm phát được mọi người biết tới, do đó vẫn yêu cầu lạm phát nhanh hơn để giữ lãi suất thị trường ở mức thấp. Tương tự như thế, vì ảnh hưởng của Fisher, cơ quan tiền tệ sẽ không chỉ yêu cầu giảm phát mà còn giảm phát cực nhanh để giữ lãi suất thị trường cao hơn mức “tự nhiên” ban đầu.
Phân tích này có bản sao gần giống trong thị trường lao động. Tại bất kỳ thời điểm nào, tồn tại một mức thất nghiệp có tính nhất quán với điểm cân bằng trong cấu trúc của tỷ lệ lương thực tế. Tại mức thất nghiệp này, lương thực tế luôn luôn ở mức trung bình để tăng lên một tỷ lệ cũ “thông thường”, ví dụ, tại một mức có thể được duy trì không rõ ràng rất lâu như nền tảng vốn, những tiến bộ công nghệ, vân vân, duy trì trong xu hướng dài hạn của chúng. Một mức thất nghiệp thấp hơn là một chỉ báo rằng cầu lao động đang vượt mức và sẽ tạo ra áp lực tăng lương thực tế. Một mức thất nghiệp cao hơn là một chỉ báo rằng cung lao động đang vượt mức, và sẽ tạo ra áp lực giảm lương thực tế. Nói cách khác, mức “tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên” sẽ được xác định bởi hệ thống các phương trình cân bằng tổng quát của Walras, được áp vào những đặc tính cấu trúc thực sự của thị trường lao động và hàng hóa, bao gồm tính không hoàn hảo của thị trường, tính đa dạng ngẫu nhiên về cung và cầu, chi phí thu thập thông tin về việc làm và lượng lao động, chi phí dịch chuyển, và nhiều hơn nữa.6
Bạn sẽ nhận ra mối tương đồng gần gũi giữa quan điểm này và đường Phillip. Mối tương đồng này không hề ngẫu nhiên. Phân tích của Phillips về mối quan hệ giữa thất nghiệp và sự thay đổi của lương xứng đáng được xem là đóng góp nền tảng và quan trọng. Nhưng, không may là, nó vẫn có một lỗ hổng cơ bản – thất bại trong việc phân biệt giữa lương danh nghĩa và lương thực tế – cũng như phân tích của Wicksell đã thất bại trong việc phân biệt giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế. Nói một cách hàm ý thì, Phillips đã viết bài luận của mình về một thế giới mà trong đó mọi người đã dự báo rằng giá danh nghĩa sẽ ổn định và trong đó việc dự báo đã duy trì không thay đổi bất kỳ điều gì đã diễn ra với lương và giá thực tế. Giả định, theo hướng ngược lại, mọi người dự báo rằng giá sẽ tăng ở mức khoảng hơn 75% một năm – ví dụ, như những người Brazil đã làm cách đây vài năm. Sau đó lương phải tăng lên mức đơn giản là để giữ lương thực tế không đổi. Cung lao động vượt mức sẽ được phản ánh trong mức tăng không quá nhanh của lương danh nghĩa hơn là trong mức giá được dự báo7, không phải trong một mức giảm hoàn toàn của lương. Khi Brazil đưa ra một chính sách để hạ mức tăng của giá, và đã thành công trong việc hạ mức tăng của giá về khoảng 45% một năm, trước tiên khiến mức thất nghiệp tăng rõ ràng bởi ảnh hưởng của những dự báo trước đó, mức lương đã tiếp tục tăng đến một điểm cao hơn mức tăng mới của giá, mặc dù thấp hơn mức ban đầu. Đây là kết quả đã trải qua, và được kỳ vọng, bằng tất cả những nỗ lực để giảm mức lạm phát xuống dưới mức được dự báo trước đó.8
Để tránh hiểm nhầm, tôi muốn nhấn mạnh rằng, với việc sử dụng cụm từ tỷ lệ thất nghiệp “tự nhiên”, tôi không có ý cho rằng nó không thể thay đổi và cố định. Ngược lại, nhiều đặc tính xác định các mức độ của thị trường phụ thuộc vào con người và chính sách. Ở Mỹ, ví dụ, tỷ lệ lương tối thiểu hợp pháp, Đạo luật Walsh-Healy và Davis-Bacon, và sức mạnh của các công đoàn lao động khiến tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cao hơn mức kỳ vọng. Những cải tiến về trao đổi lao động, về khả năng thông tin cơ hội việc làm và nguồn cung lao động, và hơn nữa, sẽ luôn hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Lý do mà tôi sử dụng cụm từ “tự nhiên” cũng giốngmà Wicksell đưa ra – để cố gắng phân biệt những lực lượng thực tế với những lực lượng tiền tệ.
Chúng ta hãy giả định rằng cơ quan tiền tệ cố gắng neo tỷ lệ thất nghiệp “thị trường” ở dưới mức “tự nhiên”. Để xác định, giả sử lấy 3% là tỷ lệ mục tiêu và tỷ lệ tự nhiên cao hơn 3%. Cũng giả sử rằng chúng ta bắt đầu vào thời điểm khi giá ổn định và khi thất nghiệp cao hơn 3%. Theo đó, cơ quan tiền tệ sẽ tăng tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ. Đây được xem là bành trướng tiền tệ. Bằng cách làm cho cân bằng tiền danh nghĩa cao hơn mức kỳ vọng của người dân, ban đầu nó sẽ có khuynh hướng hạ lãi suất và theo cách này hoặc cách khác để kích thích tiêu dùng. Thu nhập và chi tiêu sẽ bắt đầu tăng.
Ban đầu, phần nhiều hoặc hầu hết gia tăng về thu nhập sẽ làm gia tăng sản lượng và lao động hơn là gia tăng giá cả. Mọi người đang kỳ vọng giá cả sẽ ổn định, và giá và lương được thiết lập trong tương lai dựa trên nền tảng cơ sở này. Mọi người sẽ mất thời gian để điều chỉnh sang một trạng thái nhu cầu mới. Các nhà sản xuất sẽ có khuynh hướng phản ứng lại sự gia tăng ban đầu của tổng cầu bằng cách tăng sản lượng, công nhân phải làm thêm giờ, và những người thất nghiệp sẽ có được công việc cung cấp mức lương danh nghĩa trước đó. Điều này khá giống với lý thuyết chuẩn.
Nhưng nó chỉ mô tả những ảnh hưởng ban đầu. Bởi giá bán sản phẩm thường phản ứng theo mức tăng ngẫu nhiên của cầu danh nghĩa nhanh hơn giá của các yếu tố sản suất, lương thực tế được nhận sẽ giảm – mặc dù lương thực tế được người lao động dự báo là tăng, bởi những người lao động hoàn toàn ước lượng mức lương đưa ra tại điểm giá trước đó. Quả thực, sự sụt giảm đồng thời trước đó của lương thực tế của người chủ lao động và việc tăng sau đó của lương thực tế với người lao động khiến cho tỷ lệ lao động tăng. Nhưng sự sụt giảm trước đó của lương thực tế sẽ sớm tác động đến những dự báo. Người lao động sẽ bắt đầu dựa vào việc tăng giá của những thứ mà họ mua và để yêu cầu về lương danh nghĩa cao hơn trong tương lai. Thất nghiệp “thị trường” ở dưới mức “tự nhiên”. Cầu lao động vượt mức, nên lương thực tế sẽ có xu hướng tăng về mức ban đầu.
Mặc dù vậy tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ cao vẫn tiếp tục, mức tăng của lương thực tế sẽ làm đảo chiều sụt giảm thất nghiệp, và sau đó khiến nó tăng lên, có khuynh hướng đưa thất nghiệp trở lại mức ban đầu. Để giữ thất nghiệp ở mức mục tiêu 3%, cơ quan tiền tệ sẽ phải tiếp tục tăng tăng trưởng tiền tệ nhiều hơn. Như trường hợp với lãi suất, mức “thị trường” có thể được giữ dưới mức “tự nhiên” chỉ bằng công cụ lạm phát. Và như trong trường hợp lãi suất, cũng, chỉ bằng cách gia tăng lạm phát. Ngược lại, hãy để cơ quan tiền tệ chọn một mức thất nghiệp cao hơn mức tự nhiên, và họ sẽ buộc phải giảm phát và lạm phát cùng một lúc.
Điều gì sẽ xảy ra nếu cơ quan tiền tệ chọn tỷ lệ “tự nhiên – hoặc là lãi suất hoặc là thất nghiệp – để làm mục tiêu? Vấn đề ở đây là họ không thể biết tỷ lệ “tự nhiên” là bao nhiêu. Không may là, chúng ta vẫn chưa tìm ra phương pháp để tính chính xác và dễ dàng tỷ lệ tự nhiên của lãi suất và thất nghiệp. Và tỷ lệ “tự nhiên” sẽ tự thay đổi theo thời gian. Nhưng vấn đề cơ bản là thậm chí cơ quan tiền tệ biết tỷ lệ “tự nhiên”, và cố gắng neo tỷ lệ thị trường tại điểm đó, thì chúng ta cũng sẽ không thể có một chính sách rõ ràng. Tỷ lệ “thị trường” sẽ thay đổi theo tỷ lệ tự nhiên vì nhiều lý do khác hơn là chính sách tiền tệ. Nếu cơ quan tiền tệ phản ứng với những biến động này, những ảnh hưởng lâu dài hơn sẽ xuất hiện và khiến bất kỳ con đường tăng trưởng tiền tệ nào mà nó theo đuổi cuổi cùng sẽ nhất quán với quy luật của chính sách. Quá trình thực sự của tăng trưởng tiền tệ sẽ diễn ra như một cuộc dạo chơi ngẫu nhiên, chống chọi theo cách này hay cách khác bằng thứ sức mạnh sẽ sản sinh ra những chệch hướng tạm thời của tỷ lệ thị trường so với tỷ lệ tự nhiên.
Phát biểu kết luận này một cách khác biệt thì, luôn có một sự đánh đổi tạm thời giữa lạm phát và thất nghiệp; và không có đánh đổi mãi mãi. Đánh đổi tạm thời không đến từ bản thân lạm phát, mà đến từ lạm phát được dự báo, thường ám chỉ, từ một mức tăng của lạm phát. Mọi người tin rằng tổn tại sự đánh đổi mãi mãi là một phiên bản phức tạp của sự cân nhắc giữa “cao” và “ gia tăng” rằng tất cả chúng ta đều nhận ra trong những trường hợp đơn giản hơn. Một mức tăng của lạm phát có thể làm giảm thất nghiệp, nhưng một mức cao thì không.
Nhưng, bạn sẽ thắc mắc, vậy “tạm thời” là bao lâu? Với lãi suất, chúng ta có một vài chứng cứ từ hệ thống về thời gian mỗi một tác động diễn ra. Với thất nghiệp, chúng ta không có chứng cứ nào. Tôi có thể mạo hiểm đưa ra một đánh giá cả nhân, dựa trên một số nghiên cứu về bằng chứng lịch sử, rằng những ảnh hưởng ban đầu của một mức lạm phát cao hơn và không được dự báo sẽ kéo dài đâu đó khoảng hai đến năm năm; và ảnh hưởng ban đầu này rồi sẽ bắt đầu bị đảo chiều; và một điều chỉnh tổng thể với mức lạm phát mới sẽ diễn ra lâu như với thất nghiệp và lạm phát, ví dụ, khoảng hai thập kỷ. Với lãi suất và phạm phát, hãy để tôi thêm vào một đặc điểm. Những đánh giá này dùng cho những thay đổi trong tỷ lệ lạm vô cùng lớn mà nước Mỹ trải qua. Với những thay đổi to lớn hơn, như những gì đã xảy ra ở các quốc gia Nam Mỹ, quá trình điều chỉnh tổng thể sẽ được tăng tốc mạnh mẽ hơn.
Kết lại luận điểm chung vẫn khác biệt này, cơ quan tiền tệ kiểm soát lượng danh nghĩa – cụ thể là, là lượng trách nhiệm chủ sở hữu của nó. Về cơ bản, nó có thể sử dụng quyền này để neo lượng danh nghĩa – mức tỷ giá hối đoái, mức giá, mức thu nhập quốc dân danh nghĩa, lượng tiền bởi một hoặc nhiều định nghĩa – hoặc để ghim lãi suất vào một lượng danh nghĩa – mức lạm phát hoặc giảm phát, mức tăng trưởng hoặc suy thoái bằng thu nhập quốc dân danh nghĩa, mức tăng trưởng của lượng tiền. Nó không thể sử dụng quyền kiểm soát này với lượng danh nghĩa để neo lượng thực tế – lãi suất, thất nghiệp thực tế, mức thu nhập quốc dân thực tế, lượng tiền thực tế, mức tăng trưởng thu nhập quốc dân thực tế, hay mức tăng trưởng lượng tiền thực tế
2. Chính sách Tiền tệ có thể làm gì
Chính sách tiền tệ không thể neo những biến thực tế tại những điểm xác định trước. Nhưng chính sách tiền tệ có thể và tạo ra những ảnh hưởng quan trọng lên những biến thực tế này. Luận điểm trước không hề mâu thuẫn với luận điểm sau.
Nghiên cứu của tôi về lịch sử tiền tệ đã khiến tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm thường bị hiểu sai, thường được trích dẫn và nhận nhiều chỉ trích của John Stuart Mill. Ông viết “Về bản chất, trong một nền kinh tế xã hội, không thể có điều gì kém quan trọng hơn tiền tệ; ngoại trừ trong trường hợp một kế hoạch tiết kiệm thời gian và lao động. Nó là một cố máy giúp hoàn thành công việc nhanh chóng và hăng hái, mặc dù kém nhanh chóng và hăng hái, nếu thiếu nó: và như nhiều loại máy khác, nó chỉ cố gắng tạo ra ảnh hưởng độc lập và khác biệt khi nằm ngoài khuôn khổ” [7, trang 488].
Thực vậy, tiền chỉ là một cỗ máy, nhưng là một cỗ máy cực kỳ hiệu quả. Nếu không có nó, chúng ta không thể bắt đầu có được tăng trưởng vượt bậc về sản lượng và mức sống mà chúng ta đã hưởng thụ trong hai thế kỷ qua – hơn bất kỳ thứ gì chúng ta có thể làm mà không có những cỗ máy thần kỳ khác rải rác trên đất nước của chúng ta và cho phép chúng ta, hầu hết, đơn giản là hoàn thành công việc hiệu quả hơn khi mà không có chúng với chi phí lao động lớn hơn rất nhiều.
Nhưng tiền cũng có một đặc điểm mà những cỗ máy khác không có. Bởi vì nó quá lan tỏa, nên khi vượt ra khỏi khuôn khổ, nó trở thành một con khỉ làm hỗn loạn hoạt động của tất cả các cỗ máy khác. Đại Khủng hoảng là một ví dụ kinh hoàng nhất nhưng không phải là duy nhất. Mọi cuộc khủng hoảng khác trên đất nước này đều đã được sinh ra từ sự mất ổn định tiền tệ hoặc gia tăng quá mức bởi mất ổn định tiền tệ. Mọi cuộc lạm phát lớn đều sinh ra bởi bành trướng tiền tệ – hầu hết để đáp ứng nhu cầu vượt mức của chiến tranh đã thúc đẩy việc in tiền để bổ sung thâm hụt thuế.
Bài học đầu tiên và quan trọng nhất là lịch sử đã cho chúng ta biết những gì chính sách tiền tệ có thể làm – một bài học quan trọng và to lớn nhất – rằng chính sách tiền tệ có thể ngăn tiền không trở thành một nguồn cơn chính của biến động kinh tế. Điều này có vẻ là một mục tiêu hơi bi quan: tránh những lỗi sai lớn. Phần nào, thực tế chính là như vậy. Cuộc Đại khủng hoảng có thể sẽ không xảy ra, và nếu xảy ra, người ta có thể bảo vệ phần nào, nếu cơ quan tiền tệ tránh được những lỗi sai, hoặc nếu những thiết chế tiền tệ là những thiết chế của một giai đoạn trước khi không có cơ quan tiền tệ nào có sức mạnh để tạo ra những lỗi sai kiểu này như Hệ thống Cục Dự trữ Liên bang đã làm. Một vài năm qua, nói một cách trần trụi, hoạt động kinh tế đáng ra phải ổn định hơn, hiệu quả hơn nếu Cục Dự trữ Liên bang tránh được những thay đổi quyết liệt và thất thường của cách làm này, đầu tiên là mở rộng cung tiền với tốc độ nhanh hợp lý, rồi, vào đầu năm 1966, đạp ga mạnh hơn, tiếp đó, cuối năm 1966, quay ngược lại và tiếp tục bành trướng cho đến tháng 11 năm 1967, tại một điểm với tốc độ cao hơn có thể duy trì lâu dài mà không có lạm phát đáng kể.
Thậm chí nếu quan điểm rằng chính sách tiền tệ có thể ngăn tiền trở thành nguồn cơn chính của biến động kinh tế là một quan điểm bi quan, nhưng cũng không vì thế mà nó kém quan trọng. Tuy nhiên, như những gì đã diễn ra, đây không hoàn toàn là một quan điểm bi quan. Cỗ máy tiền tệ đã vượt ra khỏi khuôn khổ thậm chí khi không có bất kỳ cơ quan tiền tệ nào có thứ sức mạnh như Cục Dự trữ Liên bang hiện đang nắm giữ. Ở Mỹ, trong giai đoạn 1907 và trước đó, nỗi kinh hoàng với các ngân hàng là những ví dụ của việc cỗ máy tiền tệ đã có thể vượt ra khỏi khuôn khổ của chính nó mạnh mẽ như thế nào. Do đó, một nhiệm vụ quan trọng và sáng sủa hơn cho cơ quan tiền tệ là đưa ra những cải tiến cho chiếc máy này để giúp giảm thiểu những khả năng để nó có thể vượt ra khỏi khuôn khổ, và để sử dụng sức mạnh của nó để giữ chiếc mày này trong một khuôn khổ được điều phối tốt.
Điều thứ hai mà chính sách tiền tệ có thể thực hiện đó là cung cấp một nền tảng ổn định cho nền kinh tế – giữ cho chiếc máy được tra dầu liên tục, để tiếp tục phép loại suy của Mill. Thực hiện được nhiệm vụ đầu tiên này sẽ đóng góp cho mục tiêu này, và còn hơn thế nữa. Hệ thống kinh tế của chúng ta sẽ hoạt động tốt nhất khi nhà sản xuất và người tiêu dùng, chủ lao động và người lao động, có thể hành động với đầy đủ tự tin rằng mức giá trung bình sẽ biến động theo như dự báo trong tương lai – tốt hơn hết là sẽ ổn định ở mức tương đối cao. Trong bất kỳ thiết kế thể chế khả dĩ nào, và chắc chắn trong những thể chế đang thịnh hành tại Mỹ, giá và lương chỉ linh hoạt phần nào. Chúng ta cần duy trì tính linh hoạt này để đạt được những thay đổi tương đối trong giá và lương mà chúng ta cần để điều chỉnh với những thay đổi linh động của thị hiếu và công nghệ. Chúng ta không nên phung phí nó chỉ đơn giản là để đạt được những thay đổi hoàn toàn trong mức giá mà không phục vụ những chức năng kinh tế. Ở một thời kỳ trước đó, người ta dựa vào chuẩn bản vị vàng để tạo ra niềm tin vào sự ổn định của tiền tệ trong tương lai. Trong thời kỳ hoàng kim, chuẩn này đã phục vụ chức năng ổn định khá tốt. Nhưng rõ ràng là không lâu sau, do khan hiếm mà một quốc gia trên thế giới đã sẵn sàng buông lỏng sự thống trị của chế độ bản vị vàng – và có những lý do thích hợp để các quốc gia không nên làm vậy. Cơ quan tiền tệ có thể hoạt động như một người đại diện cho chuẩn bản vị vàng, nếu nó neo tỷ giá và độc quyền làm việc đó bằng cách thay đổi lượng tiền để phản ứng lại cán cân thanh toán mà không “khử trùng” thặng dư hoặc thâm hụt và không dùng đến điều khiển tỷ giá mở hoặc đóng hoặc những thay đổi trong hạn ngạch và hàng rào thuế. Nhưng một lần nữa, mặc dù nhiều ngân hàng trung ương nói như vậy, nhưng một số trong thực tế vẫn sẵn sàng theo hướng này – và lại có những nguyên nhân hợp lý về việc tại sao họ không nên làm thế. Một chính sách như thế sẽ phù hợp với mỗi quốc gia để những điều bất thường không phải của chuẩn bản vị vàng tự động và khách quan mà là của các chính sách – thông thường hoặc ngẫu nhiên – của những cơ quan tiền tệ khác.
Trong thế giới ngày nay, nếu việc thực thi chính sách tiền tệ là nhằm cung cấp một nền tảng ổn định cho nền kinh tế, thì chính sách này phải làm như vậy bằng cách thường xuyên sử dụng triệt để sức mạnh của mình. Tôi sẽ nói về cách thức để nó có thể thực hiện sau đây.
Cuối cùng, chính sách tiền tệ có thể tham gia bù đắp những biến động lớn trong hệ thống kinh tế gây ra bởi những nguyên nhân khác. Nếu có một niềm vui độc lập muôn thưở – như sự bành trướng thời hậu thế chiến được miêu tả bởi những đề xuất lạm phát đình đốn muôn thưở – chính sách tiền tệ về cơ bản có thể tự kiểm soát bởi một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ chậm hơn là có thể mong đợi. Nếu, như bây giờ, ngân sách liên bang bành trướng đe dọa thâm hụt ngân sách không được dự báo, chính sách tiền tệ có thể kiểm soát bất kỳ nguy hiểm nào đối với lạm phát bằng một mức tăng trưởng tiền tệ thấp hơn mức kỳ vọng. Điều này sẽ tạm thời khiến lãi suất cao hơn mức bình thường – cho phép chính phủ mượn tổng tiền cần thiết để tài trợ thâm hụt – nhưng bằng cách ngăn gia tăng lạm phát, có thể khiến cả giá và lãi suất danh nghĩa thấp trong thời gian dài. Nếu chiến tranh kết thúc cho đất nước một cơ hội để chuyển những nguồn lực dành cho chiến tranh sang sản xuất cho thời bình, chính sách tiền tệ có thể nới lỏng sự chuyển dịch này bằng một mức tăng trưởng tiền tệ cao hơn mức kỳ vong – mặc dù kinh nghiệm không quá khuyến khích nó có thể làm như vậy mà không gây ra hậu quả.
Tôi đã đặt điểm này vào cuối bài, và đề cập đến nó trong những điều kiện thích hợp – như liên hệ đến những biến động lớn – bởi tôi tin rằng tiềm năng của chính sách tiền tệ trong việc bù đắp những nguyên nhân bất ổn khác bị giới hạn khá nhiều so với những gì mọi người tin tưởng. Chúng ta đơn giản là không có đủ kiến thức để có thể nhận ra những biến động nhỏ khi chúng xảy ra hoặc có thể tiên đoán liệu những ảnh hưởng của chúng sẽ xảy ra chính xác hay không, hay chính sách tiền tệ cần phải bù đắp những gì cho những ảnh hưởng của chúng. Chúng ta không có đủ kiến thức để có thể đạt được những mục tiêu đã đề cập bằng những thay đổi trong việc kết hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa một cách tinh tế, hay thậm chí là thô thiển. Đặc biệt trong phạm vi này mục tiêu xuất sắc rất có thể là kẻ thù của sự đúng đắn. Kinh nghiệm cho thấy rằng con đường khôn ngoan là sử dụng chính sách tiền tệ một cách khéo léo để bù đắp những biến động khác chỉ khi chúng tạo ra một “mối nguy hiện tồn và rõ ràng.”
3. Chính sách tiền tệ nên được sử dụng như thế nào?
Chính sách tiền tệ nên được sử dụng thế nào để đóng góp trong phạm vi khả năng của nó cho những mục tiêu của chúng ta? Đây chắc chắn không phải là dịp để trình bày một “Kế hoạch Ổn định Tiền tệ” chi tiết – sử dụng tiêu đề của một cuốn sách mà tôi đang cố gắng làm như thế [3]. Tôi sẽ tự ngăn bản thân mình trong hai yêu cầu lớn với chính sách tiền tệ đã theo sát từ thảo luận bên trên.
Yêu cầu đầu tiên là cơ quan tiền tệ nên tự biết rằng họ có thể kiểm soát cái gì và không thể kiểm soát cái gì. Nếu, như những cơ quan vẫn thường làm, lấy lãi suất hoặc tỷ lệ thất nghiệp hiện tại làm tiêu chuẩn tức thời của chính sách, nó sẽ giống như một cỗ máy không gian phụ trách một lỗi trên một ngôi sao gặp trục trặc. Dù cho dụng cụ hướng dẫn của nó tinh vi và mạnh đến đâu chăng nữa, cỗ máy vẫn sẽ đi chệch hướng. Và cơ quan tiền tệ cũng sẽ như vậy. Với những việc quan trọng khác mà nó có thể kiểm soát, những hướng dẫn thu hút nhất với chính sách là tỷ giá hối đoái, mức giá được xác định vởi một vài chỉ số, và tổng lượng tiền – tiền cộng thêm những khoản đặt cọc điều chỉnh theo cầu, hoặc tổng này cộng thêm các khoản đặt cọc kỳ hạn của ngân hàng thương mại, hoặc một tổng rộng hơn.
Đặc biệt với nước Mỹ, tỷ giá hối đoái là một chỉ dẫn không đáng mong đợi. Có thể sẽ tốt khi yêu cầu toàn bộ nền kinh tế điều chỉnh một lượng nhỏ bao gồm ngoại thương nếu điều này đảm bảo nền kinh tế được tách biệt khỏi sự vô trách nhiệm của tiền tệ – như khi áp dụng một chuẩn bản vị vàng thực tế. Nhưng gần như không đáng để nền kinh tế hành động như vậy chỉ đơn giản là để thích ứng với mức trung bình của bất cứ cái gì mà các chính sách của cơ quan tiền tệ thuộc phần còn lại của thế giới chấp nhận. Tốt hơn là để cho thị trường, bằng tỷ giá hối đoái thả nổi, điều chỉnh các điều kiện của thế giới vào khoảng 5% hoặc là với nguồn lực của chúng ta dành cho thương mại quốc tế trong khi bảo toàn chính sách tiền tệ để thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả 95% còn lại.
Trong ba chỉ dẫn trên, mức giá rõ ràng là quan trọng nhất bởi những ảnh hưởng của nó. Những chỉ dẫn khác tương tự, có thể là lựa chọn tốt nhất – như nhiều nhà kinh tế cao cấp đã thuyết phục trong quá khứ. Nhưng những chỉ dẫn khác thực tế lại không giống như thế. Mối liên hệ giữa hành động chính sách của cơ quan tiền tệ và mức giá, trong khi thực tế rõ ràng, kém trực diện hơn mối liên hệ giữa hành động chính sách của cơ quan tiền tệ và bất kỳ tổng lượng tiền tệ nào. Hơn nữa, hành vi tiền tệ cần mất nhiều thời gian để tác động lên mức giá hơn là tác động lên tổng cung tiền và cả thời gian chờ và tầm quan trọng của tác động đa dạng với nhiều trường hợp. Kết quả là, chúng ta không thể nào tiên đoán chính xác rằng một hành động tiền tệ đặc thù sẽ có những tác động nào lên mức giá và, cũng quan trọng không kém, là khi nào ảnh hưởng đó diễn ra. Nỗ lực để kiểm soát trực tiếp mức giá do đó có thể khiến bản thân chính sách tiền tệ là nguồn cơn của biến động kinh tế bởi những quãng dừng và khởi đầu sai lầm. Có lẽ, như hiểu biết của chúng ta về những tiến bộ của hiện tượng tiền tệ, tình huống này sẽ thay đổi. Nhưng ở chặng hiện tại của hiểu biết của chúng ta, cách dài hạn xung quanh dường như là cách chắc chắn hơn với mục tiêu của chúng ta. Theo đó, tôi tin rằng tổng lượng tiền là cách tốt nhất hiện tại phù hợp với chỉ dẫn hay tiêu chuẩn tức khắc cho chính sách tiền tệ – và tôi tin rằng
Yêu cầu thứ hai của chính sách tiền tệ là cơ quan tiền tệ tránh những cánh rõ ràng trong chính sách. Trong quá khứ, các cơ quan tiền tệ thường đi sai hướng – như trong giai đoạn Đại Khủng hoảng mà tôi đã nhấn mạnh. Thường xuyên hơn, họ đi đúng hướng, mặc dù là thường quá muộn, nhưng đã để sai lầm đi quá xa. Quá muộn và quá nhiều chính là kinh nghiệm đã trải qua. Ví dụ, vào đầu năm 1966, là thời điểm cục dự trữ liên bang cần đưa ra chính sách hợp lý để hành động nhằm giàm thiểu sự bành trướng – mặc dù, điều này nên được làm ít nhất là một năm trước. Nhưng khi được triển khai, nó đã đi quá xa, gây ra những thay đổi rõ rệt nhất về mức tăng trưởng tiền tệ của thời kỳ hậu chiến tranh. Một lần nữa, cũng đi quá xa, đó là chính sách của Fed nhằm đảo chiều diễn biến vào cuối năm 1966. Nhưng một lần nữa, nó lại đi quá xa, không chỉ làm phục hồi mà còn vượt quá mức vượt trước đó của tăng trưởng tiền tệ. Và giai đoạn này không phải là ngoại lệ. Nó thường xuyên diễn ra như vậy vào những năm 1919 và 1920, 1937 và 1938, 1953 và 1954, 1959 và 1960.
Nguyên nhân cho thiên hướng phản ứng quá mức này dường như rất rõ ràng: sự thất bại của các cơ quan tiền tệ trong việc cho phép trì hoãn giữa hành động của họ và những ảnh hưởng sau đó đến nền kinh tế. Họ luôn xác định những hành động của mình dựa trên những điều kiện hiện tại – nhưng những hành động của họ sẽ tác động đến nền kinh tế sau sáu hoặc chín hoặc mười hai thậm chí mười hai tháng sau đó. Bởi vậy, họ cảm thấy cần phải đạp ga, hoặc đạp phanh, cực mạnh, như tình thế lúc đó yêu cầu.
Quan điểm cá nhân của tôi vẫn là cơ quan tiền tệ phải hết sức tránh những phương pháp như vậy bằng cách thực hiện một cách công khai những chính sách này để đạt một trạng thái tăng trưởng tổng mức tiền tệ quy định ổn định. Tỷ lệ tăng trưởng chuẩn xác, hay tổng tiền chuẩn xác, không quan trọng bằng việc áp dụng một vài tỷ lệ cho sẵn và biết trước. Tôi ủng một tỷ lệ sẽ là mức trung bình để cơ bản đạt được ổn định mức giá của sản phẩm cuối cùng, mà tôi đã ước lượng sẽ yêu cầu một số thứ như một tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ 3 đến 5% một năm cộng thêm tất cả các khoản đặt cọc của các ngân hàng thương mại hoặc một tỷ lệ tăng trưởng tương đối thấp của tiền và chỉ cộng thêm các khoản đặt cọc phía cầu. Nhưng sẽ tốt hơn nếu có một mức cố định có thể là mức trung bình của lạm phát hoặc giảm phát, để tạo sự ổn định, hơn là chịu những biến động lớn và thất thường mà chúng ta đã trải qua.
Vì không áp dụng một chính sách về tốc độ tăng trưởng tiền tệ ổn định công khai như vậy, nên sẽ là một bước tiến lớn nếu cơ quan tiền tệ tuân thủ quy định tự phủ nhận để tránh những thay đổi lớn. Đây chỉ là vấn đề mang tính thống kê khi những giai đoạn tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ tương đối ổn định cũng là các giai đoạn hoạt động kinh tế tương đối ổn định ở cả Hoa Kỳ và các quốc gia khác. Khoảng thời gian tốc độ tăng trưởng tiền tệ dao động mạnh cũng là giai đoạn hoạt động kinh tế dao động mạnh.
Bằng cách tự thiết lập một khung khổ ổn định và duy trì nó, cơ quan tiền tệ có thể tạo ra một đóng góp lớn lao trong việc thúc đẩy ổn định kinh tế. Khi thực hiện khung khổ đó tốc độ tăng trưởng lượng tiền ổn định nhưng không ôn hòa sẽ tạo ra một tác động lớn để tránh được lạm phát hay giảm phát giá cả. Những lực lượng khác sẽ tiếp tục tác động đến nền kinh tế, yêu cầu phải có sự thay đổi và điều chỉnh, và làm xáo trộn đường hướng đúng đắn của chúng ta. Nhưng tăng trưởng tiền tệ ổn định sẽ tạo ra một bầu không khí tiền tệ dễ chịu với hoạt động điều hành hiệu quả của những những thành tố cơ bản như kinh doanh, tài khéo, phát minh, làm việc chăm chỉ, và tiết kiệm sẽ là tạo cho nền kinh tế những cơ hội tăng trưởng vượt bậc. Đó là điều tôi khao khát mong chờ nhất từ chính sách tiền tệ trong khả năng tri thức hiện tại của thời đại chúng ta. Nhưng nhìn chung – và đây là một thương vụ lớn – rõ ràng là nó trong tầm với của chúng ta.
KHOA KINH TẾ VÀ CHI HỘI DU LỊCH LỮ HÀNH TỔ CHỨC TỌA ĐÀM VÀ KÍ KẾT THỎA THUẬN HỢP TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH
Nhằm mang lại thông tin hữu ích cho sinh viên về định hướng nghề nghiệp trong lĩnh vực du lịch (hướng dẫn viên, điều hành du lịch, kinh doanh, kế toán…) đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo cơ hội việc làm, từ đó giúp sinh viên chuẩn bị hành trang cũng như kĩ năng làm việc cần thiết, đồng thời, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực du lịch; Góp phần nâng cao kết quả học tập và chất lượng đào tạo; giúp sinh viên tự phát triển bản thân, ngày 23/01/2019 tại phòng họp 2 – Trường Đại học Tây Bắc, Khoa Kinh tế và các doanh nghiệp thuộc Chi hội du lịch lữ hành – Hiệp hội du lịch tỉnh Sơn La đã tổ chức buổi Tọa đàm và kí kết thỏa thuận hợp tác đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực du lịch.
Buổi tọa đàm và kí kết với sự có mặt của lãnh đạo nhà trường, lãnh đạo các phòng ban, các thầy cô giáo khoa Kinh tế, lãnh đạo Hiệp hội du lịch tỉnh Sơn La, 8 doanh nghiệp thuộc Chi hội du lịch lữ hành – Hiệp hội du lịch tỉnh Sơn La và 45 bạn sinh viên đại diện cho các chuyên ngành Kế toán, Quản trị kinh doanh và Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành của khoa Kinh tế – trường Đại học Tây Bắc.
Tại buổi tọa đàm, ông Hoàng Chí Thức – Chủ tịch Hiệp hội du lịch và doanh nghiệp tỉnh Sơn La đã chia sẻ về thực trạng, tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh Sơn La và cơ hội việc làm trong lĩnh vực này hiện nay là rất nhiều. Lần lượt đại diện các doanh nghiệp tham dự cũng đã chia sẻ về quá trình hình thành và phát triển của đơn vị mình cũng như nhu cầu tuyển dụng hiện tại và trong tương lai. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng đã giải đáp những băn khoăn, lo lắng của một số bạn sinh viên. Tuy nhiên, do thời gian có hạn nên các doanh nghiệp chưa thể giải đáp được hết tất cả các câu hỏi của các bạn sinh viên. Mặc dù vậy, việc chia sẻ nhiệt tình, sự cởi mở của các doanh nghiệp đã giúp các bạn sinh viên định hình được phần nào các công việc và mở ra rất nhiều cơ hội cho các bạn sinh viên không chỉ chuyên ngành kinh tế và du lịch mà còn cả các bạn sinh viên ở các chuyên ngành khác như Tiểu học – Mầm non, Sử – địa….. nếu như các bạn có nhu cầu, sự đam mê, nhiệt huyết và thái độ làm việc nghiêm túc
Buổi tọa đàm và kí kết thỏa thuận hợp tác đã thành công trên cả mong đợi với việc 8/8 doanh nghiệp đồng ý và cam kết thỏa thuận hợp tác với khoa Kinh tế – Trường Đại học Tây Bắc về đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực du lịch. Cụ thể là các doanh nghiệp đều đồng ý nhận các sinh viên đến trải nghiệm, rèn nghề và thực tập cuối khóa, đó là những cơ hội rất tốt cho các bạn sinh viên được học từ thực tế.
Dưới đây là một số hình ảnh của buổi Tọa đàm và kí kết thỏa thuận hợp tác.
Nguyễn Thị Thanh Thủy





